đặt vấn đề thu phí và lệ phí phải đảm bảo bù đắp chi phí và có lợi nhuận hợp lý nhằm tạo điều kiện cho ngƣời dân đƣợc sử dụng và tiếp cận dịch vụ công phù hợp với mức thu nhập và khả năng đóng góp của mình. Tại một số quốc gia trên thế giới, mức thu phí và lệ phí phải đảm bảo bù đắp đƣợc chi phí, nhằm khuyến khích sự phát triển của các dịch vụ công, tránh lạm dụng dịch vụ công. Do vậy, Luật phí và lệ phí năm 2015 sửa đổi nguyên tắc xác định mức thu phí và lệ phí nhƣ sau: Mức thu phí đƣợc xác định cơ bản bảo đảm bù đắp chi phí, có tính đến chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân. Mức thu lệ phí đƣợc ấn định trƣớc, không nhằm mục đích bù đắp chi phí; mức thu lệ phí trƣớc bạ đƣợc tính bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị tài sản; bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân.
Quản lý thu phí và lệ phí tại Văn phòng Đăng ký đất đai 1. Khái quát về Văn phòng Đăng ký đất đai Căn cứ khoản 4 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP, vị trí, chức năng Văn phòng đăng ký đất đai đƣợc quy định cụ thể nhƣ sau: Vị trí: Văn phòng đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp công trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trƣờng do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng thành lập hoặc tổ chức lại trên cơ sở hợp nhất Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trƣờng và các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trƣờng hiện có ở địa phƣơng; có tƣ cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu riêng và đƣợc mở tài khoản để hoạt động theo quy định của pháp luật. Văn phòng đăng ký đất đai có chi nhánh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Chi nhánh đƣợc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng theo quyết định của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng.
Chức năng: Văn phòng đăng ký đất đai có chức năng thực hiện đăng ký đất đai và tài sản gắn liền với đất; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trƣờng hợp đƣợc ủy quyền theo quy định; xây dựng, quản lý, cập nhật, đo đạc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai; thống kê, kiểm kê đất đai; cung cấp thông tin đất đai theo quy định cho 14 các tổ chức, cá nhân có nhu cầu và thực hiện các dịch vụ khác trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ phù hợp với năng lực theo quy định của pháp luật. Với vị trí và chức năng đƣợc giao nhƣ trên cho thấy, Văn phòng Đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp đƣợc Sở Tài nguyên và Môi trƣờng giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động liên quan đến đất đai và một số hoạt động này có phát sinh phí và lệ phí theo quy định hiện hành của Nhà nƣớc nhƣ: lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài sản gắn liền với đất, phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phí đăng ký giao dịch bảo đảm, phí khai thác, sử dụng tài liệu, dữ liệu TN và MT, phí khai thác, sử dụng thông tin dữ liệu đo đạc và bản đồ,… Vì vậy, Văn phòng Đăng ký đất đai phải thực hiện quản lý thu phí và lệ phí theo đúng quy định. Quản lý thu phí, lệ phí tại Văn phòng Đăng ký đất đai 1. Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý thu phí và lệ phí tại Văn phòng Đăng ký đất đai Một là, khái niệm Thuật ngữ “Quản lý” thƣờng đƣợc hiểu đó là quá trình mà chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý và phƣơng pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối tƣợng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu đã định.
Quản lý đƣợc sử dụng khi nói tới các hoạt động và các nhiệm vụ mà nhà quản lý phải thực hiện thƣờng xuyên từ việc lập kế hoạch đến quá trình thực hiện kế hoạch đồng thời tổ chức kiểm tra. Ngoài ra nó còn hàm ý cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của tổ chức [1]. Quản lý thu phí và lệ phí là quá trình áp dụng các công cụ và phƣơng pháp quản lý nhằm tạo lập và sử dụng quỹ thu đƣợc để đạt những mục tiêu đã định. Để quản lý thu phí và lệ phí hiệu quả các cơ quan, đơn vị phải sử dụng nhiều phƣơng pháp cũng nhƣ nhiều công cụ quản lý khác nhau nhƣng mục đích hƣớng đến của quản lý thu phí và lệ phí trong các cơ quan, đơn vị cũng là tính hiệu quả trong hoạt động tài chính để nhằm đạt đến những mục tiêu đã định.
Tại Văn phòng Đăng ký đất đai, việc quản lý thu phí, lệ phí dựa vào nguồn tài chính thu từ các dịch vụ về cung cấp thông tin đất đai; trích đo địa chính thửa đất, khu đất và tài sản gắn liền với đất, trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính theo quy định của pháp luật. Theo Danh mục phí và lệ phí quy định tại Luật Phí và Lệ phí 15 số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015, các khoản phí, lệ phí liên quan đến lĩnh vực đất đai bao gồm: (i) Phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là khoản thu đối với công việc thẩm định hồ sơ, các điều kiện cần và đủ đảm bảo việc thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; (ii) Phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai. Đây là khoản thu đối với ngƣời có nhu cầu khai thác và sử dụng tài liệu về đất đai của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quản lý hồ sơ, tài liệu về đất đai nhằm bù đắp chi phí quản lý, phục vụ việc khai thác, sử dụng tài liệu đất đai và bù đắp chi phí cho hoạt động thu phí; (iii) Lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài sản gắn liền với đất.
Đây là khoản thu mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải nộp khi đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài sản gắn liền với đất; (iv) Lệ phí trƣớc bạ đƣợc quy định tại Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 và đã đƣợc sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 20/2019/NĐ-CP ngày 21/02/2019. Theo đó, tất cả các tổ chức, cá nhân có tài sản là các đối tƣợng phải nộp lệ phí trƣớc bạ (đất đai) khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, trừ một số các trƣờng hợp thuộc diện miễn lệ phí trƣớc bạ theo quy định. Căn cứ tính lệ phí trƣớc bạ là giá tính lệ phí trƣớc bạ và mức thu lệ phí trƣớc bạ theo tỷ lệ (%). Giá tính lệ phí trƣớc bạ đối với đất là giá đất tại bảng giá đất do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng ban hành theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm kê khai lệ phí trƣớc bạ.
Mức thu lệ phí trƣớc bạ đối với đất là 0,5%. Phí thu từ các hoạt động dịch vụ mà Văn phòng Đăng ký đất đai thực hiện đƣợc để lại một phần hoặc toàn bộ số tiền phí thu đƣợc để trang trải chi phí hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí trên cơ sở dự toán đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt, phần còn lại nộp ngân sách nhà nƣớc. Số tiền phí đƣợc khấu trừ và đƣợc để lại quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Phí và lệ phí đƣợc sử dụng nhƣ sau: Căn cứ tính chất, đặc điểm của từng loại phí, từng tỉnh sẽ có quyết định định mức để trích lại cho Văn phòng Đăng ký đất đai trang trải chi phí hoạt động cung cấp dịch vụ là khác nhau; 16 Số tiền phí để lại đƣợc quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật; hàng năm phải quyết toán thu, chi. Số tiền phí chƣa chi trong năm đƣợc chuyển sang năm sau để tiếp tục chi theo chế độ quy định.
Hai là, mục tiêu quản lý thu phí và lệ phí tại Văn phòng Đăng ký đất đai Bù đắp chi phí là mục tiêu thƣờng đƣợc nhìn nhận phổ biến nhất của phí. Có lẽ đây cũng là cơ sở cho việc xây dựng pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 và dự thảo Luật phí và lệ phí hiện nay. Nguồn thu đƣợc sử dụng để bù đắp nhƣ chi phí hạ tầng kỹ thuật, chi xã hội, chi lƣơng,. Tùy loại hình dịch vụ mà phí có thể bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí liên quan.
Lúc này, mức phí sẽ bằng chi phí biên của việc cung cấp thêm một đơn vị sản phẩm dịch vụ (tức là chi phí tăng thêm khi sản xuất hay cung cấp thêm một đơn vị sản phẩm hay dịch vụ). Đối với những hàng hóa có những thất bại thị trƣờng thì mức phí sẽ đƣợc xác định nhằm bảo đảm nguồn lực xã hội đƣợc sử dụng hiệu quả, đồng thời đảm bảo việc thu hồi vốn cho ngƣời cung cấp. Ngoài ra, phí dùng để phân bổ nguồn lực hiệu quả Nhƣng thật ra mục tiêu quan trọng nhất của phí không phải để bù đắp chi phí, mà nhằm phân bổ nguồn lực hiệu quả. Có những hoạt động kinh tế mà bản thân cơ chế thị trƣờng không làm cho việc phân bổ nguồn lực tối ƣu.
Lúc này cần có sự can thiệp của nhà nƣớc. Phí là một công cụ cho mục tiêu này, nhất là trong việc khắc phục những ngoại tác tiêu cực do việc sử dụng quá mức. Phí đƣợc sử dụng để bảo đảm công bằng: Một mục tiêu quan trọng khác của phí chính là đảm bảo công bằng. Phí đƣợc dựa trên nguyên tắc ngƣời hƣởng lợi hay ngƣời sử dụng trả tiền.
Nói một cách đơn giản, ai dùng thì ngƣời đó trả. Tuy nhiên, việc áp dụng phí sử dụng cũng gây ra trục trặc về khía cạnh công bằng, nhất là công bằng dọc vì nhiều loại phí thƣờng áp dụng đồng mức cho nhiều ngƣời. Một sắc thuế hay một loại phí tốt cần đảm bảo cả công bằng ngang và công bằng dọc.