CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức 1. Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng Đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước là một trong những nhiệm vụ cốt lõi nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng và phẩm chất cho đội ngũ cán bộ công chức, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đào tạo là quá trình truyền đạt một lượng kiến thức và kỹ năng nhất định cho đối tượng học tập cụ thể được thực hiện theo một quy trình khép kín ảm bảo tuân thủ các chuẩn mực và phương pháp dạy học đã được quy định.
Yếu tố về năng lực và lượng kiến thức đầu vào của đối tượng được đào tạo không nhất thiết phải làm rõ một cách chi tiết, bởi đào tạo thường tập trung vào việc nâng cao kiến thức và kỹ năng để đáp ứng mục tiêu cuối cùng. Tuy nhiên, năng lực và kiến thức đầu ra lại phải được quy chuẩn hóa và xác định rõ các tiêu chuẩn đã đạt được. Sự chuyển biến về chất lượng năng lực và kiến thức của đối tượng được đào tạo là kết quả của một quá trình dạy và học có hệ thống, giúp người học không chỉ tiếp thu mà còn phát triển năng lực chuyên môn và khả năng đáp ứng yêu cầu của chuyên ngành đào tạo. Khác với đào tạo, bồi dưỡng là quá trình truyền đạt hoặc nâng cao một lượng kiến thức và kỹ năng cho đối tượng cần học tập cụ thể, trong đó bồi dưỡng không nhất thiết phải làm rõ về quá trình và phương pháp truyền đạt cũng như không đòi hỏi phải thay đổi cơ bản chất lượng kiến thức của người học, mục tiêu chính là cung cấp một lượng kiến thức cần thiết để người học có thể đáp ứng yêu cầu cụ thể hoặc hoàn thành nhiệm vụ mới.
Đào tạo và bồi dưỡng đều có cùng mục đích chung là làm cho người học nâng cao trình độ chuyên môn và có khả năng xử lý công việc, năng lực công tác một cách tốt hơn. Thực tế có một số hoạt động đào tạo hoặc bồi dưỡng khó có thể phân chia thành từng nội dung “đào tạo” hay “bồi dưỡng” tách rời nhau 7 bởi vì chúng có sự kế thừa và đan xen lẫn nhau. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng mà học viên có thể đạt được một lượng trình độ, kiến thức, chuyên môn nghề nghiệp nhất định, qua đó giúp họ có thể khai thác tốt tiềm năng vốn có của bản thân để vận dụng trong công việc một cách tốt nhất. Trong phạm vi nghiên cứu về quản lý tài chính tại Trường BDCB Tài chính, đơn vị thực hiện chức năng nhiệm vụ đào tạo, BDCB, công chức viên chức ngành Tài chính, Đề án thạc sỹ này sử dụng khái niệm chung về ĐTBD như vừa trình bày ở trên.
Đặc điểm về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Một là, đào tạo, bồi dưỡng gắn với chức danh nghề nghiệp hay vị trí việc làm của cán bộ, công chức viên chức. Mọi tổ chức ra đời đều có vai trò để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ riêng của mình. Trên cơ sở đó hệ thống chức nghiệp hoặc vị trí việc làm, các đơn vị cần xác định những khung năng lực cần thiết cho từng vị trí, từ đó có thể thực hiện các công việc như tuyển dụng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Hai là, đào tạo, bồi dưỡng được gắn với quy hoạch hay kế hoạch bố trí sử dụng cán bộ công chức, viên chức.
Hệ thống vị trí việc làm trong các tổ chức thuộc cơ quan nhà nước hiện nay được xây dựng bao gồm các vị trí việc làm liên quan đến công việc chuyên môn hoặc vị trí việc làm liên quan đến chức vụ lãnh đạo, quản lý. Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thường được gắn với việc bố trí, sử dụng, kế hoạch, quy hoạch, người lao động nhằm giúp cho hoạt động đào tạo bồi dưỡng có thể đáp ứng năng lực khi bố trí hoặc quy hoạch chức danh đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Ba là, đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức thường sẽ có nội dung rộng và toàn diện. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng thì cần phải được xây dựng một cách toàn diện thì mới đáp ứng yêu cầu và đảm bảo trang bị kiến thức, kỹ năng cho người học để có thể đạt được những mục tiêu về tăng cường năng lực, phẩm chất và tư chất cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các đơn vị giúp đội ngũ cán bộ đó hoàn thành chức năng nhiệm vụ được giao một cách tốt nhất.
Bốn là, đào tạo bồi dưỡng là quyền lợi cũng là trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức. Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thì đào tạo, bồi dưỡng không thể thiếu, đào tạo, bồi dưỡng góp phần đảm bảo lợi ích cho từng cán bộ, 8 công chức, viên chức. Vì vậy, được tham gia đào tạo bồi dưỡng là quyền lợi của cán bộ, công chức. Mặc khác, các cán bộ công chức viên chức, ngoài việc để thực hiện nhiệm vụ quy định thì luôn không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng, hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ thật tốt.
Muốn vậy cán bộ công chức, viên chức phải tham gia học tập các khoá đào tạo bồi dưỡng để có đủ năng lực giúp hoàn thành nhiệm vụ được giao. Do đó, trách nhiệm của mỗi cán bộ công chức, viên chức là phải tham gia đào tạo bồi dưỡng. Trên đây là các đặc điểm của ĐTBD công chức, viên chức. Những đặc điểm này ảnh hưởng đến công tác tổ chức ĐTBD nói chung và quản lý tài chính trong hoạt động ĐTBD nói riêng.
Vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong cơ quan Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và có những vai trò sau: - Bổ sung tri thức, nâng cao kiến thức, trình độ hiểu biết của công chức, viên chức; - Trau dồi các kỹ năng công tác và nâng cao kinh nghiệm thực tiễn để công chức, viên chức hoàn thành tốt hơn công việc đã được phân công; - Rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức và tư chất cho công chức, viên chức. Thông qua đó, đã góp phần nào nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức viên chức trong các cơ quan Nhà nước, theo đó giúp nâng cao chất lượng nền công vụ nói chung. Mục tiêu của đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Mục tiêu của ĐTBD là trang bị kiến thức, kỹ năng phương pháp trong thực thi công vụ. ĐTBD không chỉ là việc nâng cao kiến thức và kỹ năng mà còn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ công chức, viên chức chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính tiên tiến, hiện đại.
Khái niệm, vai trò, phân loại mức tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm tự chủ tài chính Tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập là quyền tự quyết và tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các quy định về danh mục sự nghiệp công, giá và phí dịch vụ công, lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công, phân loại mức độ tự chủ 9 tài chính, hoạt động liên doanh, liên kết, quản lý và sử dụng tài sản công, cùng các quy định liên quan khác. Vai trò của tự chủ tài chính Tự chủ tài chính là cơ chế cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập tự quyết định và chịu trách nhiệm về các khoản thu, chi của mình, tuy nhiên, phải tuân thủ giới hạn mức khung theo quy định. Thứ nhất, việc tự chủ tài chính giúp các ĐVSN công lập có thể chủ động trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
Bên cạnh đó, đơn vị có thể tăng cường nguồn thu và phát huy tối đa khả năng của mình để cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho xã hội. Thứ hai, Thực hiện và cung cấp các dịch vụ phục vụ cộng đồng, đồng thời khuyến khích sự tham gia và đóng góp của toàn xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững cho các hoạt động sự nghiệp. Thứ ba, Thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp, đồng thời Nhà nước vẫn duy trì sự quan tâm và đầu tư để thúc đẩy các hoạt động sự nghiệp phát triển bền vững. Qua đó, đảm bảo các đối tượng chính sách - xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, cũng như người dân ở vùng sâu, vùng xa, và các khu vực đặc biệt khó khăn được tiếp cận với các dịch vụ ngày càng chất lượng hơn.
Phân loại mức tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công a). Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư (đơn vị nhóm 1) Thứ nhất, đơn vị có mức tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên xác định bằng hoặc lớn hơn 100%; có mức tự bảo đảm chi đầu tư bằng hoặc lớn hơn mức trích khấu hao và hao mòn tài sản cố định của đơn vị. Mức tự bảo đảm chi đầu tư được xác định các nguồn sau: + Số dự kiến trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp trong năm kế hoạch hoặc của bình quân 05 năm trước liền kề; + Số thu phí được để lại để chi thường xuyên không giao tự chủ. 10 Thứ hai, đơn vị cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng ngân sách nhà nước thì giá dịch vụ sự nghiệp công xác định theo cơ chế thị trường và có tính đủ khấu hao tài sản cố định và có tích lũy dành chi cho đầu tư.
Đơn vị sự sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên (đơn vị nhóm 2) Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên cần đáp ứng một trong các điều kiện sau: Thứ nhất, đơn vị có mức tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên được xác định bằng hoặc lớn hơn 100% và chưa tự bảo đảm chi đầu tư từ nguồn Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn thu phí được để lại chi và các nguồn tài chính hợp pháp khác.