phần mở đầu và kết luận, luận văn thạc sĩ đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng trong lĩnh vực thƣơng mại Chƣơng 2: Phân tích thực trạng quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng trong lĩnh vực thƣơng mại của Bộ Tài nguyên và môi trƣờng Chƣơng 3: Các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng trong lĩnh vực thƣơng mại 13 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ MÔI TRƢỜNG TRONG LĨNH VỰC THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng trong lĩnh vực thƣơng mại. Thương mại và môi trường trong lĩnh vực thương mại 1. Khái niệm thƣơng mại Thƣơng mại đƣợc coi là hoạt động kinh tế sớm nhất từ khi loài ngƣời xuất hiện.
Bắt nguồn từ sự phát triển của sản xuất, nhờ phân công lao động và chuyên môn hóa, hàng hóa đƣợc làm ra nhiều hơn và có dƣ thừa, từ rất sớm, con ngƣời đã có nhu cầu trao đổi sản phẩm với nhau để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và thƣơng mại ra đời. Ban đầu sự trao đổi chỉ ở trong phạm vi hẹp và hình thức trao đổi sơ khai là đổi sản phẩm lấy sản phẩm. Sự ra đời của tiền tệ biến thƣơng mại trở thành một ngành kinh doanh, các doanh nghiệp thƣơng mại dịch vụ ra đời chứng tỏ vai trò của nó trong nền kinh tế. Xuất phát từ nguồn gốc và các hoạt động căn bản của kinh doanh thƣơng mại, theo nghĩa hẹp, thƣơng mại đƣợc hiểu là hoạt động mua bán hàng hóa trên thị trƣờng, là lĩnh vực phân phối và lƣu thông hàng hóa.
Cùng với sự xuất hiện của thƣơng mại dịch vụ với hoạt động ngày càng đa dạng, lĩnh vực thƣơng mại có nhiều biến đổi để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của con ngƣời. Vì vậy, thƣơng mại đƣợc định nghĩa rộng hơn là toàn bộ các hoạt động đầu tƣ nguồn lực nhằm mục tiêu sinh lợi bao gồm hai nhóm chính là thƣơng mại hàng hóa và dịch vụ. Dƣới góc độ của quản lý nhà nƣớc, Luật Thƣơng mại 2005 định nghĩa “hoạt động thƣơng mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”1. 14 Nhìn chung, thƣơng mại là khâu kết nối giữa giữa sản xuất và tiêu dùng, đặc biệt thƣơng mại dịch vụ đã làm thay đổi hoàn toàn khái niệm về lĩnh vực thƣơng mại.
Theo đó, bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thƣơng mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tƣ vấn; kỹ thuật công trình; đầu tƣ; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhƣợng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đƣờng biển, đƣờng không, đƣờng sắt hoặc đƣờng bộ… đều thuộc lĩnh vực thƣơng mại. Nhƣ vậy, lĩnh vực thương mại là toàn bộ các quan hệ diễn ra khi tiến hành hoạt động thương mại. Khi nghiên cứu về lĩnh vực này cũng cần xem xét các khái niệm thƣơng mại theo nghĩa rộng để có cách tiếp cận đầy đủ nhất. Khái niệm môi trƣờng trong lĩnh vực thƣơng mại Mọi hoạt động sống của con ngƣời bao gồm cả hoạt động thƣơng mại đều diễn ra trong môi trƣờng sống bao gồm cả môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội.
Môi trƣờng tự nhiên bao gồm các yếu tố thiên nhiên tồn tại khách quan không theo ý muốn của con ngƣời nhƣng chịu tác động của con ngƣời. Môi trƣờng xã hội là tổng thể các mối quan hệ của con ngƣời, đó là các luật lệ, thể chế ở các cấp khác nhau. Không có hoạt động nào lại tách rời đƣợc môi trƣờng xung quanh nó. Ngày nay, dƣới tác động của con ngƣời, môi trƣờng sống đang đáp trả lại bằng nhiều dấu hiệu tiêu cực khiến cho con ngƣời càng lúc càng cần phải nhận thức càng rõ rệt hơn tầm quan trọng của môi trƣờng đối với sự tồn tại của loài ngƣời.
Theo luật bảo vệ môi trƣờng 2005, “môi trƣờng đƣợc hiểu là các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con ngƣời và sinh vật”2. Môi trƣờng là không gian sống của con ngƣời và sinh vật. Trong quá trình sống, lao động, học tập, làm việc con ngƣời cần đƣợc cung cấp các yếu tố tối thiểu duy trì sự sống nhƣ nƣớc, không khí, thức ăn, hoặc cao hơn là để đáp ứng các nhu cầu nhà ở, lao động, văn hóa… và những yếu tố này đƣợc môi trƣờng cung cấp. Tuy nhiên khả năng cung cấp các yếu 2 [14, tr.
15 tố này là có giới hạn và tùy thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia hay từng thời kì nhất định. Môi trƣờng cung cấp tài nguyên cho con ngƣời nhƣng đồng thời cũng là nơi chứa đựng các chất thải mà con ngƣời thải ra trong khi tiến hành các hoạt động sống của mình. Các chất thải này khiến cho môi trƣờng bị suy giảm và ô nhiễm gây tác động xấu tới chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời. Từ các khái nhiệm cơ bản có thể hiểu: Môi trường trong lĩnh vực thương mại là các yếu tố môi trường xung quanh nơi con người tiến hành tất cả các hoạt động thương mại của mình, có tác động đến các hoạt động thương mại và ngược lại chịu ảnh hưởng của hoạt động thương mại của con người.
Hoạt động kinh doanh thƣơng mại dịch vụ cũng nhƣ các hoạt động sống của con ngƣời một mặt làm thay đổi cảnh quan môi trƣờng, mặt khác đƣa vào trong môi trƣờng một lƣợng chất thải nhất định gây ô nhiễm môi trƣờng. Việc quản lý các hoạt động này là hết sức cần thiết để giảm thiểu tác hại do ô nhiễm môi trƣờng gây ra. Các yếu tố của môi trƣờng trong lĩnh vực thƣơng mại Xét trong lĩnh vực thƣơng mại, theo phạm vi và đặc trƣng của các hoạt động thƣơng mại, các yếu tố về môi trƣờng cần quan tâm đến có những đặc điểm riêng cần lƣu ý, cụ thể bao gồm các yếu tố sau: - Ô nhiễm môi trƣờng Môi trƣờng tự nhiên là các yếu tố bao quanh con ngƣời. Ngày nay, trong môi trƣờng xuất hiện các hiện tƣợng nhƣ không khí có nhiều khói bụi khiến con ngƣời và sinh vật gặp khó khăn trong hô hấp, nguồn nƣớc ngọt bị nhiễm bẩn không thể sử dụng đƣợc hoặc nếu sử dụng sẽ làm suy giảm sức khỏe của con ngƣời và sinh vật, đất đai chứa chất phóng xạ không thể trồng trọt, rác thải ra quá nhiều làm không khí có mùi khó chịu và phát sinh dịch bệnh, khí nhà kính phá hủy tầng Ô zôn, tiếng ồn quá lớn ảnh hƣởng đến khả năng nghe và não bộ, v.v… Các hiện tƣợng đó chính là ô nhiễm môi trƣờng.
Luật Bảo vệ môi trƣờng 2005 định nghĩa “Ô nhiễm môi trƣờng là sự biến đổi các thành phần môi trƣờng không phù hợp với tiêu chuẩn môi trƣờng, gây ảnh hƣởng đến con ngƣời, sinh vật”3. Cụ thể, đó là việc một tính chất nào đó 3 [14, tr. 16 của môi trƣờng bị thay đổi vƣợt ra ngoài mức tiêu chuẩn mà sinh vật có thể thích nghi và sống trong đó. Sinh vật sống nói chung và con ngƣời nói riêng tồn tại cần phải có một số điều kiện nhất định.
Con ngƣời cần hô hấp, đó là quá trình thu nhận khí Oxi (O 2)và thải ra khí Cacbonic (CO2), nếu tỷ lệ Oxi cao thì việc hô hấp dễ dàng hơn, ngƣợc lại nếu lƣợng Oxi trong không khí quá thấp thì con ngƣời không thể hô hấp để tồn tại đƣợc. Con ngƣời cần cung cấp cho cơ thể thức ăn và nƣớc uống, cơ thể sẽ hấp thu các chất cần cho sự tồn tại của cơ thể con ngƣời. Nếu cơ thể hấp thu phải các chất độc hại thì sẽ tổn hại đến sức khỏe. Các chất độc hại có thể tồn tại trong nguồn nƣớc, trong thực phẩm, trong không khí… và phần lớn là do chính con ngƣời trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đƣa vào môi trƣờng ra do quá trình lao động của mình.
Việc thải ra môi trƣờng quá nhiều chất thải chứa các thành phần chất làm suy giảm chất lƣợng môi trƣờng sống, ảnh hƣởng đến đời sống của con ngƣời và sinh vật chính là hành động gây ô nhiễm môi trƣờng. - Hoạt động gây ô nhiễm môi trƣờng trong thƣơng mại Trong quá trình tiến hành hoạt động thƣơng mại, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trƣờng có thể là hoạt động bắt nguồn từ sản phẩm kinh doanh cụ thể là: Kinh doanh sản phẩm gây ô nhiễm, sản phẩm chứa hợp chất gây ô nhiễm, kinh doanh sản phẩm khai thác từ tự nhiên nhƣ gỗ, khoáng sản, động vật quý hiếm., chất thải thải ra từ quá trình tiêu thụ sản phẩm; hoặc trong quá trình kinh doanh nhƣ: các chất thải của quá trình sản xuất, quá trình vận chuyển hàng hóa, sự thay đổi cảnh quan do xây dựng công trình phục vụ hoạt động mua bán, dự trữ, chất thải từ hoạt động dịch vụ… Chung quy lại, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trƣờng trong lĩnh vực thƣơng mại thuộc về hai nhóm chính là do kinh doanh các loại hàng hóa gây ô nhiễm và do chất thải phát sinh trong hoạt động kinh doanh thƣơng mại. Để bảo vệ môi trƣờng thì cần kiểm soát các hoạt động này trong ngƣỡng hợp lý. - Cơ sở hạ tầng thƣơng mại Trong lĩnh vực thƣơng mại, cơ sở hạ tầng là các công trình phục vụ cho các hoạt động thƣơng mại bao gồm hệ thống các khu chợ, trung tâm thƣơng mại, kho 17 bãi dự trữ hàng hóa, hệ thống đƣờng giao thông phục vụ lƣu chuyển hàng hóa, các bến bãi tập kết hàng, trạm trung chuyển hàng hóa, văn phòng và cơ sở khác sử dụng trong kinh doanh thƣơng mại.
Việc hình thành những công trình này sẽ làm thay đổi cảnh quan và tác động đến môi trƣờng nơi nó đƣợc xây dựng, trƣớc hết là do quá trình xây dựng công trình, sau đó là các tác động có thể gây ra trong khi vận hành công trình. Để đảm bảo công tác bảo vệ môi trƣờng trong thƣơng mại, khi tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng thƣơng mại, cần phải có các công trình bảo vệ môi trƣờng đi kèm.