Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực lãnh đạo trong doanh nghiệp. - Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý nguồn nhân lực lãnh đạo tại công ty cổ phần ACC-244. - Chương 3: Một số giả pháp nhằm góp phần hoàn thiện quản lý nguồn nhân lực lãnh đạo tại công ty cổ phần ACC-244. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC LÃNH ĐẠO TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Nguồn nhân lực lãnh đạo trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực lãnh đạo trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực lãnh đạo là một phạm trù bao gồm hai thành tố là nguồn nhân lực và lãnh đạo vì thế khi nói đến khái niệm nguồn nhân lực lãnh đạo tức là ta cần làm rõ hội hàm nguồn nhân lực và nội hàm nhân lực lãnh đạo.
* Nguồn nhân lực Từ khi phương thức quản lý và sử dụng con người có sự thay đổi cơ bản theo hướng coi trong con người hơn vào những năm 80 của thế kỉ trước thì thuật ngữ nguồn nhân lực ra đời với rất nhiều các phát biểu khác nhau. Ví dụ như theo từ điển Bách khoa toàn thư nguồn nhân lực là “tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội” tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Còn trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đến nguồn nhân lực thì “nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có cùng với những năng lực tiềm năng của con người”. Cả hai quan điểm trên cùng đánh giá cao tiềm năng của con người, coi tiềm năng của con người là những năng lực, khả năng để có cơ chế quản lý thích hợp.
Ngoài ra còn nhiều khái niệm về nguồn nhân lực như nguồn nhân lực là tổng thể yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân đảm bảo sự sáng tạo, đạt được mục tiêu trong và ngoài tổ chức; nguồn nhân lực là nguồn lực con người của tổ chức có khả năng tham gia vào quá trình phát riển của tổ chức….Tuy giác độ tiếp cận khác nhau nhưng ta có thể tóm lại rằng nguồn nhân lực trong một tổ chức là khái 6 niệm tổng hợp bao gồm cả các yếu tố thể lực, trí lực và tâm lực của con người ở hiện tại cũng như trong tiềm năng tương lai của tổ chức. * Nhân lực lãnh đạo Có khá nhiều phát biểu khác nhau về nhân lực lãnh đạo do cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau ví dụ như theo học giả Ralph Stogdill, nhân lực lãnh đạo phải luôn được định nghĩa cùng với sự ràng buộc của tính cách, cách ứng xử, ảnh hưởng đối với người khác, các chuỗi hoạt động tương tác, quan hệ, vị trí quản lý, và nhìn nhận của người khác về tính hợp pháp của quyền lực và sự tạo dựng ảnh hưởng; theo học giả Robert House nhân lực lãnh đạo là những người có khả năng gây ảnh hưởng, kích thích và khuyến khích người khác đóng góp vào các hoạt động có hiệu quả và thành công của tổ chức họ trực thuộc. Tuy nhiên dù nhìn nhận theo cách nào, thì nhân lực lãnh đạo phải đảm bảo được 3 yếu tố: khả năng tạo tầm nhìn, khả năng truyền cảm hứng và khả năng gây ảnh hưởng. Hay nói một cách đơn giản nhân lực lãnh đạo là người có khả năng truyền cảm hứng, khơi dậy sự nhiệt tình, động lực của người khác để họ làm việc một cách tốt nhất nhằm đạt được các mục tiêu kế hoạch của tổ chức.
Từ những khái niệm trên ta có thể định nghĩa nguồn nhân lực lãnh đạo của doanh nghiệp là tất cả tiềm năng (kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức) của những người có khả năng truyền cảm hứng, khơi dậy sự nhiệt tình, động lực của người khác để họ làm việc một cách tốt nhất nhằm đạt được các mục tiêu kế hoạch của doanh nghiệp.2 Phân loại nguồn nhân lực lãnh đạo trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực lãnh đạo được chia làm hai loại: nguồn nhân lực lãnh đạo chính thức và nguồn nhân lực lãnh đạo không chính thức. 7 Nguồn nhân lực lãnh đạo chính thức là những người lãnh đạo có thực quyền tức là họ vừa là người lãnh đạo đồng thời đóng vai trò quản lý trong một tổ chức, được trao quyền hạn và chức năng hành xử trên người khác để thi hành một công tác theo hoạch định. Do đó theo từng tình huống cụ thể xảy ra mà họ sẽ thể hiện vai trò người lãnh đạo hay vai trò người quản lý trong doanh nghiệp. Nguồn nhân lực lãnh đạo không chính thức hay còn gọi là lãnh đạo tự nhiên, là người lãnh đạo do thiên phú với phong cách lôi cuốn người khác.
Tuy họ không có quyền hạn chính thức để sai khiến, nhưng lời nói của họ có giá trị, được người khác lắng nghe và thực hiện. Những người lãnh đạo tự nhiên này thường được người khác ngưỡng mộ như một chứng nhân gương mẫu về cách tổ chức và thực hiện đối với đời sống cá nhân cũng như trong doanh nghiệp. Do giới hạn về thời gian và năng lực nên trong luận văn này tôi chỉ đề cập đến nguồn nhân lực lãnh đạo chính thức tức là đề cập đến những người lãnh đạo nắm giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp như tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, trưởng phòng, phó phòng, đội trưởng, đội phó. Ở trong doanh nghiệp những người này lại được chia theo các cấp lãnh đạo khác nhau: - Lãnh đạo cấp cao: đây là những người có vị trí dẫn đầu tại cấp độ lãnh đạo doanh nghiệp như tổng giám đốc, phó tổng giám đốc.
Họ là người đại diện cho doanh nghiệp trước pháp lý, trước lợi ích chung của doanh nghiệp và kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp đạt được. Họ duy trì và phát triển doanh nghiệp trong môi trường kinh tế cạnh tranh, ảnh hưởng đến tính hiệu quả của tài chính, cách phát sinh tiền lời cho đơn vị, nâng cao năng suất và hiệu quả lao động, sự hài lòng của nhân viên và khách hàng… 8 - Lãnh đạo cấp trung: đây là những người dẫn đầu tại cấp độ lãnh đạo các đơn vị trong doanh nghiệp như trưởng phòng, phó phòng. Họ là người quản lý của một số lãnh đạo cấp thấp hơn và phải báo cáo cho các lãnh đạo cấp cao hơn. Các nhà lãnh đạo cấp trung làm việc với các nhà lãnh đạo cấp cao và phối hợp với các nhà lãnh đạo đồng cấp để phát triển và triển khai các kế hoạch hành động nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược.
- Lãnh đạo cấp thấp: là những người dẫn đầu tại cấp độ lãnh đạo cơ sở trong doanh nghiệp như đội trưởng, đội phó. Họ là người chịu trách nhiệm trực tiếp đối với công việc của người lao động trực tiếp.3 Các yếu tố đặc trưng của đội ngũ nguồn nhân lực lãnh đạo trong doanh nghiệp Đội ngũ nhân lực lãnh đạo là một thành tố cơ bản của nguồn nhân lực vì thế nó cũng có những đặc điểm của nguồn nhân lực về số lượng nhân lực lãnh đạo, chất lượng nhân lực lãnh đạo, cơ cấu nhân lực lãnh đạo (theo tuổi, theo cấp bậc.), cơ cấu giới tính, cơ cấu trình độ đào tạo, cơ cấu kinh tế…. * Số lượng nhân lực lãnh đạo Là tổng số người nắm giữ vị trí lãnh đạo trong doanh nghiệp. Họ bao gồm chủ sở hữu của doanh nghiệp, những người được doanh nghiệp thuê, được trả công và được ghi vào trong danh sách nhân sự của doanh nghiệp.
Sự phát triển về số lượng nhân lực lãnh đạo phụ thuộc vào nhu cầu thực tế công việc của mỗi doanh nghiệp. * Chất lượng nhân lực lãnh đạo Là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực lãnh đạo trong doanh nghiệp, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bản chất bên trong như trạng thái sức khỏe, trí tuệ, trình độ văn hóa, kỹ năng, sự hiểu biết, thẩm mỹ… * Cơ cấu cấp bậc nhân lực lãnh đạo 9 Cơ cấu này bao gồm số lượng nhân lực lãnh đạo được phân chia từ cấp cao cho đến cấp thấp. Nó phản ánh các bước thăng tiến trong nghề nghiệp của một tổ chức. * Cơ cấu tuổi nhân lực lãnh đạo Cơ cấu này được biểu thị số lượng cán bộ lãnh đạo ở những độ tuổi khác nhau.
Nó phản ánh xu hướng lãnh đạo tương lai của tổ chức. Ngoài ra đội ngũ nhân lực lãnh đạo còn có những đặc điểm riêng khác biệt với các đội ngũ nguồn nhân lực khác. Đó chính là tố chất cũng như kỹ năng của nhân lực lãnh đạo. Theo giáo trình Quản lý học của nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân thì: * Tố chất của nhân lực lãnh đạo là những thứ thuộc về tiềm năng của người lãnh đạo, nó bao gồm: Nghị lực: cán bộ lãnh đạo phải là những người có tham vọng và quyết tâm đạt được thành quả cao.
Họ là những người kiên trì và có khả năng vượt qua thử thách tốt hơn những người khác. Mong muốn và khát vọng trở thành người lãnh đạo: người lãnh đạo luôn muốn gây ảnh hưởng đến những người khác. Họ thích lãnh đạo hơn là bị lãnh đạo và sẵn sàng gánh vác trách nhiệm. Họ có động cơ thúc đẩy mạnh đối với sự thành đạt và sự quan tâm đối với mọi người.
Trung thực và chính trực: người lãnh đạo cần tạo lòng tin với cấp dưới bằng cách trung thực và chính trực. Phẩm chất này làm cho mọi người cảm thấy tin tưởng - một nhân tố quan trọng để họ quyết định đi theo người lãnh đạo. Tự tin: người lãnh đạo cần thể hiện sự tự tin để có thể thuyết phục những người khác về sự đúng đắn của những quyết định và mục tiêu đã đề ra của mình. 10 Thông minh: người lãnh đạo cần phải đủ thông minh để phân tích các vấn đề và cơ hội, để thu thập, tổng hợp và xử lý thông tin; có khả năng giải quyết vấn đề và ra quyết định đúng đắn; có sự sáng tạo trong công việc.
Hiểu biết về công việc của mình: người lãnh đạo cần có kiến thức sâu rộng về hệ thống cũng như môi trường của hệ thống và các vấn đề kỹ thuật. Điều này sẽ cho phép người lãnh đạo ra được các quyết định đúng đắn. * Kỹ năng lãnh đạo Là sự biết vận dụng có hiệu quả các kiến thức về lãnh đạo trong quá trình quản lý tổ chức để thực hiện các mục đích và mục tiêu đề ra.