Chương 1: Cơ sở lý luận về quan lý dự án đầu tư xây dung; - Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dự án tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Nam Dinh giai đoạn 2016-2021; - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Nam Định. 11 CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE QUAN LY DU AN DAU TU XAY DUNG 1. Cơ sở lý luận về dự án đầu tư xây dung 1. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng Tại Việt Nam, khái niệm dự án đầu tư được hiểu theo rất nhiều góc độ.
Tiêu biểu trong số đó được thể hiện như sau: “Dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.” (Nguồn: Từ Quang Phương (2008), Giáo trình Quản lý dự án, NXB Dai học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội) “DAĐT là tổng thé các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định dé tao mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhăm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. ;39 (Nguồn: Nguyễn Bạch Nguyệt (2012), Giáo trình Lập dự án dau tư, NXB Dai hoc Kinh tế Quốc dân, Ha Nội) Theo Khoản 13 Điều 4 Luật Đầu tư công năm 2019 quy định: “Dự án đầu tư công là dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công.” Theo Khoản 4 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020 quy định: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn dé tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thé, trong khoảng thời gian xác định.” Ngoài ra, theo Khoản 15 Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014 có quy định như sau: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn dé tiến hành hoạt động xây dựng dé xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng.” Như vậy tùy thuộc vào tính chất của dự án đó và mục đích sử dụng thì DAĐT có cách phát biêu khác nhau. Nhưng tổng quát thì đều có những điểm cơ bản sau: 12 - Về nội dung: DAĐT là tập hợp các công việc nhất định có liên quan đến nhau nhăm đạt được mục đích thông qua việc sử dụng các nguồn lực; - Về mục tiêu kinh tế xã hội: Đối với CDT đó là mục dich thu hồi vốn, tạo lợi nhuận và vị thế phát triển mới của doanh nghiệp; đối với xã hội đó là việc phù hợp với quy hoạch định hướng phát triển, kinh tế, tạo thêm việc làm va sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái; - Về nguồn lực: Vốn, lao động, máy móc, đất đai, tài nguyên, thiết bị, công nghệ kĩ thuật, nguyên vật liệu, .; - Về kết quả: Cụ thé, có thé định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án; - Về hình thức: DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trong đó trình bày một cách chi tiết có hệ thống về các nội dung công việc và chi phí theo một kế hoạch nhất định đề đạt được kết quả và mục tiêu cụ thể trong tương lai.
Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng Các dự án nói chung và dự án đầu tư xây dựng nói riêng thường có các đặc điểm sau: Thứ nhất, luôn có các mục tiêu rõ ràng, bao gồm những mục tiêu về chức năng của dự án như: công suất, chỉ tiêu về kinh tế kỹ thuật và mục tiêu ràng buộc như thời hạn hoàn thành, chi phí và chất lượng. Bên cạnh đó mục tiêu ở đây còn được thé hiện trên hai khía cạnh bao gồm mục tiêu cụ thể và mục tiêu tổng thế. Trong đó mục tiêu cụ thé là những kết quả trước mắt mà DA cần phải dat được còn mục tiêu tông thé là các lợi ích đối với KT-XH; Thứ hai, sản pham của DADTXD là công trình xây dựng mang tính đơn chiếc, hoàn toàn duy nhất và không phải là sản phẩm của một quá trình sản xuất liên tục, hàng loạt; Thứ ba, DAĐTXD luôn bị ràng buộc bởi các nguồn lực được xác định từ trước là thời gian thực hiện, tiền vốn, vật tư thiết bị, nhân lực, công nghệ, kỹ thuật,. Nguồn lực chính là nguyên liệu đầu vào dé thực hiện dự án và các nguồn lực này rất đa dạng tùy vào các dự án khác nhau; Thứ tư, ĐTXD là một lĩnh vực có độ rủi ro cao và chủ yếu là do thời gian thực hiện kéo dài dân đên nhiêu hệ lụy nguy hiêm khác.
Ngoài ra các rủi ro như chính sách 13 kinh tế, chính trị, những biến chuyên trong xã hội, thời tiết,. cũng góp phần gây ra rủi ro rất lớn cho việc thực hiện DAĐTXD; Thứ năm, sản phẩm của DADTXD thường có kích thước và trọng lượng tương đối lớn. Do đó số lượng, chủng loại vật tư vật liệu, thiết bị máy móc, các loại phương tiện dùng trong thi công và loại lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng vô cùng khác nhau, lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công khiến cho giá thành sản phâm rat phức tạp và thường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ; Thứ sáu, DADTXD có sự tham gia của nhiều chủ thể, đó là chủ đầu tư, đơn vị thiết kế, đơn vị xây dựng, đơn vị giám sát, các nhà cung ứng,. Các chủ thê này làm việc với nhau trong suốt thời gian thực hiện DA với mục đích đạt được kết quả tốt nhất.
Tuy nhiên họ cũng có những lợi ích riêng biệt, mối quan hệ giữa các chủ thể này thường mang tính đối tác nhưng cũng dễ xảy ra xung đột về quyền lợi; Thứ bay, DAĐTXD liên quan đến đa ngành nghé, lĩnh vực và diễn ra ở nhiều phạm vi địa lí, cảnh quan, môi trường tự nhiên, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương nơi đặt công trình. Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng DADT được tạo nên bởi một quá trình gom nhiéu giai đoạn. Những giai đoạn này vừa có mỗi quan hệ khăng khít, diễn ra liên tiếp nhưng cũng có tính độc lập tương đối với nhau tạo thành chu trình hoàn thiện của dự án. Quy trình của dự án nhìn chung được chia làm ba giai đoạn lần lượt: Chuẩn bị dự an; Thực hiện dự án và Kết thúc dự án đưa công trình vào khai thác sử dụng.
Trình tự thực hiện đầu tư xây dựng theo quy định tại Điều 4 của Nghi định 15 quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, cụ thé như sau: “_ Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: khảo sát xây dựng; lập, thâm định, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chỉ tiết xây dựng phục vụ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng; lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi dé phê duyệt/quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án; - Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: chuan bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thâm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng: cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép 14 xây dựng); lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng: thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dung; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; vận hành, chạy thử; nghiệm thu hoàn thành công trình xây dung; ban giao công trình đưa vào sử dụng và các công việc cần thiết khác; - Giai đoạn kết thúc xây dựng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, quyết toán dự án hoàn thành, xác nhận hoàn thành công trình, bảo hành công trình xây dựng, bàn giao các hồ sơ liên quan và các công việc cần thiết khác. Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm quản lý dự án đầu tư xây dựng “Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt va đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phâm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép.” (Nguồn: Từ Quang Phương (2008), Giáo trình Quản lý dự án, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội) Nói cách khác QLDA là công việc áp dụng các chức năng và hoạt động của quản lý vào suốt vòng đời của dự án hay nói một cách đơn giản, QLDA là việc huy động các nguồn lực và tổ chức các công nghệ dé thực hiện được mục tiêu đề ra. Quản lý DADTXD là một quá trình phức tạp nó mang tính duy nhất không có sự lặp lại, không xác định rõ ràng và không có dự án nào giống dự án nào.
Mỗi dự án có địa điểm khác nhau, không gian và thời gian khác nhau, yêu cầu về số lượng và chất lượng khác nhau, tiến độ khác nhau, con người cũng khác nhau, .thậm chí trong quá trình thực hiện dự án còn có sự thay đổi mục tiêu, ý tưởng từ Chủ đầu tư. Cho nên việc điều hành quản lý dự án đầu tư xây dựng cũng luôn thay đổi linh hoạt, không có công thức nhất định. Vai trò của quản lý dự án trong hoạt động đầu tư xây dựng Công tác QLDA có vai trò tối quan trọng trong bat kì dự án ở mọi lĩnh vực đặc biệt là trong DTXD.