CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ DOANH THU, CHI PHÍ CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH TRONG TẬP ĐOÀN KINH DOANH 1.1 Một số vấn đề cơ bản về Công ty Tài chính 1.1 Khái niệm về Công ty Tài chính Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức tài chính phi ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc khơi các nguồn vốn từ những người cho vay- những người tiết kiệm- tới người vay- những người cần chi tiêu. Quá trình đổi mới tài chính đã làm cho các tổ chức tài chính phi ngân hàng trở nên quan trọng hơn nhiều. Các tổ chức này cung cấp các dịch vụ tương tự như hoạt động của ngân hàng. Trong sự phát triển của các tổ chức tài chính phi ngân hàng, các CTTC ngày càng khẳng định vị thể và vai trò của mình như một định chế tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về CTTC. Ở mỗi nước, tủy theo chính sách phát triển loại hình tổ chức tài chính này và việc quy định các loại nghiệp vụ hoạt động các CTTC được phép thực hiện mà họ đưa ra các khái niệm khác nhau. Thị trường tài chính càng phát triển thì khái niệm CTTC càng mở rộng. Các nghiệp vụ hoạt động và cấu trúc tổ chức của CTTC càng phong phú, đa dạng.
Nghị định của Chính phủ Việt nam số 79/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 về tổ chức và hoạt động của CTTC quy định “Công ty Tài chính là loại hình TCTD phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm”.2 Sự ra đời và phát triển của các CTTC: 1.1Nguyên nhân hình thành các CTTC: Không ai có thể biết chắc được các CTTC bắt đầu ra đời và hoạt động từ thời điểm nào. Nguồn gốc ra đời của các CTTC gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự tiến bộ khoa học công nghệ và các nhu cầu đa dạng của con người về các dịch vụ tài chính. Có nhiều lý do cho sự xuất hiện của các CTTC, song có thể thấy chủ yếu là do chính nhu cầu đa dạng về các loại hình dịch vụ tài chính tiền tệ trong quá trình phát triển của nền kinh tế đòi hỏi phải có các tổ chức tài chính thích hợp, mang tính chuyên môn hóa cao trong một số loại dịch vụ nhất định để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của khách hàng mà bản thân hệ thống ngân hàng không đáp ứng được, đồng thời không bị những hạn chế hay ràng buộc của Luật Ngân hàng. Vì có làm một số nghiệp vụ như ngân hàng song không phải là NHTM nên hầu hết các nước đều xếp CTTC vào loại hình các tổ chức tài chính phi ngân hàng và có luật hay quy chế riêng.2Phân loại các CTTC: Hoạt động của các CTTC là rất đa dạng ở các nước khác nhau nhưng nhìn chung có thể phân loại như sau: Căn cứ vào sự độc lập trong hoạt động: Các CTTC độc lập thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh như: hoạt động tín dụng gồm cho vay và bảo lãnh cho các khách hàng thương mại và sản xuất công nghiệp; các hoạt động cho thuê tài sản; bao thanh toán; kinh doanh tiền tệ; tư vấn tài chính … Các CTTC trong Tập đoàn kinh doanh tham gia chủ yếu các hoạt động sau: tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư để cung ứng cho các thành viên trong Tập đoàn; quản lý và đầu tư các khoản vốn chưa sử dụng trong Tập đoàn; quản lý các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, điều hòa vốn giữa các thành viên; làm 6 đầu mối và tư vấn cho Tập đoàn, các Công ty thành viên trong quan hệ với ngân hàng, các đối tác đầu tư; quản lý và áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro tài chính trong Tập đoàn; cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính cho các khách hàng bên ngoài… Căn cứ vào các hoạt động kinh doanh: CTTC tiêu dùng: Cung ứng phần lớn nguồn vốn của mình để cho các gia đình và cá nhân vay, phục vụ mục đích mua sắm hàng tiêu dùng như đồ đạc và các dụng cụ gia đình, thanh toán những chi phí thường xuyên.
Các CTTC tiêu dùng có thể là các công ty riêng biệt hoặc do các ngân hàng sở hữu. CTTC bán hàng: cung cấp tín dụng gián tiếp cho người tiêu dùng để mua sắm hàng hóa do Tập đoàn hoặc một nhà sản xuất bán ra. CTTC thương mại: Cung cấp các dạng tín dụng đặc biệt cho các doanh nghiệp bằng cách mua những khoản tiền phải thu (các hóa đơn nợ) của doanh nghiệp có chiết khấu gọi là bao thanh toán. Ngoài ra, các CTTC thương mại cũng chuyên môn hóa trong việc cho thuê thiết bị là những thứ họ mua và sau đó cho các doanh nghiệp thuê một số năm.
Những năm gần đây, sự phân biệt giữa ba loại hình CTTC như trên đã dần mờ nhạt, tuy vẫn còn có những Công ty chuyên môn hóa theo phương thức này hoặc phương thức khác trong hoạt động tín dụng nhưng tất cả đều nhằm vào thị trường tín dụng thương mại và thị trường tín dụng tiêu dùng. Căn cứ vào quan hệ sở hữu: đây là cách phân loại CTTC theo luật pháp của Việt nam. Các CTTC được chia theo loại hình sở hữu để tiện cho việc quản lý của Nhà nước nhưng tạo ra cảm giác bất bình đẳng giữa các loại CTTC. CTC Nhà nước: là CTTC do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh.
7 CTTC cổ phần: Là CTTC do các tổ chức và cá nhân cùng góp vốn theo quy định của pháp luật, được thành lập dưới hình thức Công ty cổ phần. CTTC trực thuộc của tổ chức tín dụng: là CTTC do một TCTD thành lập bầng vốn tự có của mình và làm chủ sở hữu theo quy định của pháp luật, hạch toán độc lập và có tư cách pháp nhân. CTTC liên doanh: CTTC liên doanh được thành lập bằng vốn góp giữa bên Việt nam gồm một hoặc nhiều TCTD, doanh nghiệp Việt nam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều TCTD nước ngoài, trên cơ sở hợp đồng liên doanh. CTTC 100% vốn nước ngoài: CTTC 100% vốn nước ngoài: được thành lập bằng vốn của một hoặc nhiều TCTD nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt nam.
Như vậy có thể thấy rằng trên thực tế có rất nhiều loại hình CTTC đang hoạt động. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của bài viết này ta chỉ tập trung ngiên cứu đến các CTTC thuộc Tập đoàn kinh tế mà cụ thể là các CTTC trong các Tổng công ty Nhà nước của Việt nam.3 Đặc điểm, vai trò của CTTC trong Tập đoàn kinh doanh: a. Khái niệm và đặc điểm của Tập đoàn kinh doanh: Khái niệm TĐKD: Tập đoàn kinh doanh là hình thức tổ chức tiên tiến, đại diện cho trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất và nền kinh tế thị trường, đóng vai trò quan trọng và chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng có thể đưa ra một khái niệm chung về TĐKD như sau: “TĐKD là tổ hợp các Công ty hoạt động trong một ngành hay nhiều ngành khác nhau, trong phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một Công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động 8 của các Công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển.
TĐKD là một cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận”. Đặc điểm của TĐKD: - Mục đích thành lập: CTTC trong TĐKD được thành lập trước hết nhằm mục tiêu huy động vốn để phục vụ nhu cầu đầu tư phát triển của TĐKD, nhằm cao hiệu quả sử dụng vốn, sức cạnh tranh và phục vụ chiến lược phát triển của Tập đoàn. Như vậy, CTT có hai nhiệm vụ cơ bản là huy động vốn phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh của Tập đoàn và kinh doanh tiền tệ. - Về loại hình sở hữu: Có thể là Công ty 100% vốn thuộc sở hữu của Tập đoàn (Công ty mẹ và các công ty thành viên) nhưng thường là sở hữu hỗn hợp, trong đó Tập đoàn và các Công ty thành viên trong Tập đoàn nắm giữ cổ phần chi phối.
- Về nội dung hoạt động: CTTC trong TĐKD thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ của một CTTC, trong đó chú trọng đến chức năng huy động vốn để phục vụ nhu cầu đầu tư tài chính tập trung, cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính cho các đơn vị thành viên trong Tập đoàn. - Phạm vi hoạt động: Thị trường chủ yếu và trước hết là Tập đoàn và các Công ty thành viên, sau dó từng bước mở rộng phạm vi hoạt động ra bên ngoài Tập đoàn, gắn liền với phạm vi và thị trường hoạt động của Tập đoàn. - Mối quan hệ giữa CTTC với các Công ty thành viên trong TĐKD: Là mối quan hệ chặt chẽ, bình đẳng trong một dây chuyền sản xuất kinh doanh, các Công ty thành viên vừa là khách hàng vừa là bạn hàng; quan hệ vay và cho vay giữa CTTC và các Công ty thành viên được thực hiện qua một lãi suất nội bộ vừa đảm bảo cạnh tranh, vừa khuyến khích, hỗ trợ từng đơn vị phát triển và phục vụ cho chiến lược phát triển chung của Tập đoàn. 9 C«ng ty mÑ C«ng ty C«ng ty C«ng ty Chi nh¸nh Chi nh¸nh con 1 conm 2 con 3 1 2 C«ng ty C«ng ty Chi nh¸nh ch¸u 1 ch¸u 2 Sơ đồ1.1: Mô hình tổ chức của Tập đoàn kinh doanh c.
Vai trò của Công ty Tài chính trong TĐKD: ở các nước phát triển theo nền kinh tế thị trường, các CTTC luôn tồn tại và ngày càng phát triển và là một định chế tài chính không thể thiếu của mỗi TĐKD và của mỗi quốc gia. Do đó vai trò của các CTTC trong ĐKKD ngày càng trở nên quan trọng, cụ thể là: - Giúp TĐKD mở rộng lĩnh vực hoạt động, đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, giảm thiểu rủi ro và tìm kiếm những nguồn lợi mới từ những ngành nghề có khả năng sinh lời cao.