Phần mở đầu; - Phần nội dung: gồm ba chương; - Phần kết luận; - Danh mục tài liệu tham khảo. 15 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT XUNG ĐỘT Để có cơ sở lý luận về việc hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột ở Việt Nam luận án cần trình bày những vấn đề mang tính lý luận có liên quan trực tiếp như: khái niệm quy phạm xung đột; khái niệm và đặc điểm của hệ thống quy phạm xung đột; những yêu cầu và những yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống quy phạm xung đột; khái niệm và đặc điểm của quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài; những ưu điểm và hạn chế của việc điều chỉnh quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài bằng quy phạm xung đột; việc điều chỉnh quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài bằng quy phạm xung đột là cần thiết khách quan. Đồng thời, để có sự so sánh với các nước trên thế giới, luận án trình bày về vị trí của các quy phạm xung đột ở một số nước có tính chất điển hình trên thế giới. Bên cạnh đó, một vấn đề mang tính lý luận không thể thiếu mà luận án cần trình bày là: vị trí và vai trò của các quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Khái niệm quy phạm pháp luật xung đột và hệ thống quy phạm pháp luật xung đột 1. Khái niệm quy phạm pháp luật xung đột 1. Định nghĩa quy phạm pháp luật xung đột Thuật ngữ “quy phạm pháp luật xung đột” hay còn gọi là “quy phạm xung đột” là thuật ngữ chỉ có tính chất quy ước. Bản thân thuật ngữ này mang tính chất rất đặc thù của pháp luật, thuộc về lĩnh vực TPQT.
Vì là thuật ngữ có tính chất rất đặc thù, nên thậm chí không ít người đã từng được đào tạo về pháp luật nhưng khi nói về thuật ngữ này vẫn chưa hiểu nó một cách thấu đáo. Điều này cũng dễ hiểu do đây là thuật ngữ rất đặc thù và không phải người nào cũng 16 thường nghiên cứu về quy phạm xung đột và trong hoạt động thực tiễn cũng còn chưa sử dụng nhiều đến loại quy phạm này. Để đưa ra định nghĩa về quy phạm xung đột, cần phải lý giải xem lý do nào dẫn đến sự xuất hiện loại quy phạm này và những đặc điểm của nó. Để lý giải những vấn đề này, trước tiên và không thể thiếu là cần tìm hiểu về đối tượng điều chỉnh của TPQT (vấn đề này sẽ được trình bày kỹ trong phần 1.
Đối tượng điều chỉnh của TPQT là các quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài, được diễn giải một cách cụ thể gồm: các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài và cả quan hệ tố tụng mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài. Đó là những mối quan hệ vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia và liên quan tới quốc gia khác, tới hệ thống pháp luật của quốc gia khác. Hay nói cách khác, đối tượng điều chỉnh của TPQT thường liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau. Do đó, nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của TPQT.
Hiện tượng này trong khoa học TPQT được gọi là xung đột pháp luật [17, tr.221-224] và thuật ngữ phổ biến của quốc tế là conflict of laws [74], [78], [79]. Trong khoa học TPQT, “xét về mặt lý luận, thì xung đột pháp luật giữa các quốc gia là hiện tượng tất yếu khách quan, phản ánh quy luật phát triển tự nhiên của xã hội trong điều kiện tồn tại nhà nước với các trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau” [35, tr. Từ đó, vấn đề được đặt ra là: về từng mối quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài cũng như về từng khía cạnh cụ thể trong mối quan hệ đó cuối cùng phải xác định được hệ thống pháp luật của quốc gia nào được áp dụng để điều chỉnh. Chính quy phạm xung đột có chức năng giải quyết vấn đề này, tức là nó chỉ ra hệ thống pháp luật của một quốc gia cụ thể được áp dụng.
Chẳng hạn: công dân Việt Nam ký hợp đồng mua bán tài sản với công dân 17 Nga. Đây là mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Để giao dịch này là hợp pháp và có giá trị pháp lý thì một trong những vấn đề quan trọng trước hết cần xác định là: năng lực hành vi của các bên chủ thể giao kết hợp đồng. Theo quy định của Hiệp định Tương trợ tư pháp (HĐTTTP) và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Liên bang Nga năm 1998 thì: “Năng lực hành vi của cá nhân được xác định theo pháp luật của Bên ký kết mà người đó là công dân” (Khoản 1 Điều 19).
Đây là quy phạm xung đột trong ĐƯQT giữa Việt Nam và Liên bang Nga, có chức năng xác định hệ thống pháp luật được áp dụng để xác định năng lực hành vi của công dân Việt Nam và công dân Nga. Theo quy định đó, PLVN được áp dụng để xác định năng lực hành vi của công dân Việt Nam, còn pháp luật Nga được áp dụng để xác định năng lực hành vi của công dân Nga. Hoặc ví dụ khác: công dân Việt Nam kết hôn với công dân Tây Ban Nha. Đây là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Để xem xét quan hệ hôn nhân này là hợp pháp và có giá trị pháp lý thì vấn đề trước tiên cần xác định là: điều kiện kết hôn đối với hai công dân này. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 thì: “Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn;…” (Khoản 1 Điều 103). Đây là quy phạm xung đột trong văn bản pháp luật của Việt Nam, có chức năng xác định hệ thống pháp luật pháp luật được áp dụng để xác định điều kiện kết hôn đối với công dân Việt Nam và công dân Tây Ban Nha. Theo quy định đó, PLVN được áp dụng để xác định điều kiện kết hôn đối với công dân Việt Nam, còn pháp luật Tây Ban Nha được áp dụng để xác định điều kiện kết hôn đối với công dân Tây Ban Nha.
Một số ví dụ khác về quy phạm xung đột như: 18 “Năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân” (Khoản 1 Điều 768 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005). “Việc nuôi con nuôi được điều chỉnh bởi pháp luật của quốc gia mà cha mẹ nuôi mang quốc tịch tại thời điểm nhận con nuôi. Trường hợp luật của quốc gia mà đứa con mang quốc tịch đòi hỏi việc nhận nuôi con nuôi phải có sự thỏa thuận hoặc ưng thuận của đứa trẻ hoặc của bên thứ ba, hoặc sự phê chuẩn, các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền thì yêu cầu này cũng phải được thỏa mãn” (Khoản 1 Điều 20 Luật về áp dụng pháp luật của Nhật Bản năm 1898). Những ví dụ trên về quy phạm xung đột cho thấy rằng, tính chất của quy phạm xung đột rất khác với các quy phạm pháp luật thông thường bởi những đặc điểm rất đặc thù sau đây: Thứ nhất, quy phạm xung đột không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài.
Trong khi đó, quy phạm pháp luật thông thường có quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ. Thứ hai, quy phạm xung đột cũng không trực tiếp quy định chế tài sẽ được áp dụng đối với bên chủ thể có hành vi vi phạm. Trong khi đó, nhiều quy phạm pháp luật thông thường có quy định về các loại chế tài khác nhau để xử lý đối với bên chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật như: chế tài phạt hợp đồng, bồi thường thiệt hại…. Thứ ba, quy phạm xung đột chỉ có chức năng xác định hệ thống pháp luật của quốc gia nào đó sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài.
Một điều cần lưu ý rằng, quy phạm xung đột xác định hệ thống pháp luật của quốc gia nào đó sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ mang tính chất dân 19 sự có yếu tố nước ngoài, chứ không quy định một văn bản pháp luật hay một số văn bản pháp luật, một quy phạm pháp luật hay một số quy phạm pháp luật cụ thể nào đó sẽ được áp dụng. Điều đó có nghĩa rằng, khi quy phạm xung đột xác định hệ thống pháp luật của quốc gia nào đó được áp dụng thì tất cả những quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến quan hệ xã hội (được quy phạm xung đột đề cập) cần phải được áp dụng (bao gồm cả các quy phạm trong văn bản, quy phạm tập quán, thậm chí cả tiền lệ pháp - đối với những nước coi tiền lệ pháp là một loại nguồn pháp luật). Vấn đề này được thừa nhận rộng rãi cả trong quan điểm cũng như thực tiễn pháp lý về TPQT [17, tr. Từ những vấn đề đã trình bày đó, có thể định nghĩa: quy phạm pháp luật xung đột là loại quy phạm không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ cũng như các biện pháp chế tài kèm theo, mà chỉ xác định hệ thống pháp luật của quốc gia này hoặc hệ thống pháp luật của quốc gia khác được áp dụng để điều chỉnh quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài.
Cấu trúc của quy phạm pháp luật xung đột Quy phạm xung đột có cấu trúc rất đặc thù, khác rất nhiều so với cấu trúc của quy phạm pháp luật nói chung. Khi nghiên cứu cấu trúc của quy phạm pháp luật nói chung và quy phạm xung đột nói riêng, điều trước tiên cần tìm hiểu là các bộ phận cấu thành của quy phạm. Đối với quy phạm pháp luật thông thường, những bộ phận cấu thành của nó thường là: phần giả định, phần quy định, phần chế tài; tuy rằng bản thân mỗi quy phạm có thể không có đầy đủ cả ba phần đó, có thể gồm phần giả định và phần quy định hoặc có thể gồm phần giả định và phần chế tài.