Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam" được thực hiện thuộc chuyên ngành Luật Quốc tế (mã số: 62 38 60 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Bá Diến.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ sự gia tăng nhanh chóng của các quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Thực tiễn được văn bản dẫn chứng qua các số liệu cụ thể: năm 2007, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đạt 20,3 tỉ USD (chiếm 25% tổng vốn đầu tư trong 20 năm); lượng khách du lịch quốc tế tính đến tháng 7 đạt hơn 2,46 triệu lượt; tính đến hết quý I/2007, Việt Nam có 200 dự án đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn hơn 1.003,95 triệu USD; năm 2005 có gần 71.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài; đến năm 2003 có gần 70.000 trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết; cùng với cộng đồng khoảng 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Sự phát triển này làm nảy sinh yêu cầu tất yếu về áp dụng pháp luật nước ngoài và sử dụng quy phạm pháp luật xung đột.

Tuy nhiên, hệ thống quy phạm xung đột tại Việt Nam bộc lộ các bất cập: thiếu quy phạm mang tính nguyên tắc nền tảng thuộc chính sách tư pháp quốc tế; thiếu tính đồng bộ và thống nhất; một số quy định chưa phù hợp thực tế; và còn tồn tại khoảng trống pháp luật ở một số lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện và có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam dưới dạng một luận án tiến sĩ luật học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định như sau:

  1. Mục tiêu nghiên cứu:
    • Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam.
    • Lập luận và đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Làm rõ các vấn đề lý luận về quy phạm xung đột, hệ thống quy phạm xung đột, quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài, vai trò điều chỉnh của quy phạm xung đột và kinh nghiệm pháp lý quốc tế.
    • Đánh giá thực trạng quy phạm xung đột trong văn bản pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và thực tiễn áp dụng nhằm chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
    • Luận giải tính tất yếu khách quan, xác lập quan điểm, phương hướng và kiến nghị cụ thể để hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam, bao gồm các quan hệ xã hội được điều chỉnh, các quy phạm xung đột trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại, tố tụng dân sự trong văn bản pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các vấn đề lý luận trực tiếp (khái niệm, cấu trúc, phân loại, hệ thuộc, yêu cầu, yếu tố ảnh hưởng); tập trung vào yếu tố nội tại của hệ thống (mô hình, bộ phận cấu thành, trật tự cấu thành); giới hạn khảo cứu ở các quan điểm, văn bản quốc tế và quốc gia điển hình; không nghiên cứu hệ thống quy phạm xung đột ở miền Nam thời kỳ trước 30/4/1975 mà tập trung giai đoạn từ sau ngày thống nhất đất nước (30/4/1975); tập trung phân tích các quy phạm còn bất cập và các vụ việc áp dụng điển hình.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tiến hành rà soát, hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài:

  1. Các công trình nghiên cứu trong nước:
  • Nhóm giáo trình và nghiên cứu tổng quan về tư pháp quốc tế: Giáo trình Tư pháp quốc tế (TS. Nguyễn Bá Diến chủ biên, 2001); Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư pháp quốc tế (TS. Đoàn Năng, 2001); Tư pháp quốc tế Việt Nam (TS. Đỗ Văn Đại và PGS. Mai Hồng Quỳ, 2006); tài liệu hội thảo Luật Tư pháp quốc tế (Nhà pháp luật Việt - Pháp, 1995). Các công trình này chủ yếu phục vụ giảng dạy lý luận chung, ít đánh giá chuyên sâu về hệ thống quy phạm xung đột thực định.
  • Nhóm chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu từng chế định: Nghiên cứu về vị trí tư pháp quốc tế của Nguyễn Trung Tín (1999); nhất thể hóa và hài hòa hóa pháp luật của Bùi Xuân Nhự (2007); quyền chọn luật áp dụng của Nguyễn Bá Chiến (2006); chọn luật trong hợp đồng thương mại quốc tế theo Công ước Rome của Bùi Thị Thu (2005); chọn luật thừa kế theo pháp luật của Đỗ Văn Đại (2003); xác định và định danh trong tư pháp quốc tế của Đỗ Văn Đại (2002).
  • Nhóm nghiên cứu trực diện về quy phạm xung đột và hệ thuộc: Về hệ thống quy phạm của Tư pháp quốc tế của Trần Văn Thắng (2000); bình luận quy phạm xung đột trong Bộ luật Dân sự của Nguyễn Trung Tín (2004); yêu cầu xây dựng quy phạm xung đột đối với hợp đồng của Nguyễn Bá Chiến (2003).
  • Nhóm nghiên cứu về khái niệm và học thuật: Khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài của Nguyễn Trung Tín và Nguyễn Ngọc Lâm (2004); quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài của Thái Công Khanh (2004); quan điểm học giả nước ngoài của Nguyễn Quang Hưng (2005); định nghĩa tư pháp quốc tế theo cách tiếp cận khách quan của Đặng Thị Thu Thảo (2005).
  • Nhóm nghiên cứu thực trạng và giải pháp hoàn thiện: Đóng góp sửa đổi Phần VII Bộ luật Dân sự của Nguyễn Tiến Vinh (2003); chọn luật áp dụng của Nguyễn Tiến Vinh (2003); hoàn thiện quy phạm xung đột của Đoàn Năng (1998); xung đột pháp luật hàng không của Ngô Huy Cương (1997); vấn đề dẫn chiếu trong hợp đồng của Đỗ Văn Đại (2003); bảo lưu trật tự công cộng của Nguyễn Bá Chiến (2004); giải quyết xung đột về thừa kế trong điều ước quốc tế của Nguyễn Hồng Bắc (1998).
  • Nhóm nghiên cứu về thực tiễn xét xử và áp dụng: Nghiên cứu về hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại TP. Hồ Chí Minh của Nguyễn Thu Giang (2003); phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006); hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của Phạm Công Bảy (2006); thừa kế nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài của Trần Văn Tuân (2005).
  • Nhóm bình luận lập pháp và các đề tài, luận án liên quan: Bình luận những nội dung mới của BLDS năm 2005 do Đinh Trung Tụng chủ biên (2005); các nghiên cứu về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của Nguyễn Hồng Bắc (2001) và Nguyễn Phương Lan (2004); đề tài nghiên cứu của Vũ Đức Long (2002); luận án tiến sĩ của Nguyễn Công Khanh (2003) và Nông Quốc Bình (2003). Các luận án này tập trung vào cả quy phạm thực chất hoặc giới hạn trong một số quan hệ hẹp (sở hữu, thừa kế, hôn nhân gia đình).
  1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài:
  • Nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp lý Anh: The Conflict of laws (J. Morris, 1984); Conflict of laws (Michael Freeman, 2004).
  • Nghiên cứu lý thuyết xung đột và chọn luật tại Bắc Mỹ: Conflict of laws - Foundations and Future Directions (Lea Brilmayer, 1991); A Canadian Looks at American Conflict of Law Theory and Practice (William Tetley); tài liệu Choice of law và Conflict of laws in the United States.
  • Nghiên cứu pháp luật quốc tế về thương mại và quyền tài phán trực tuyến: Luật quốc tế về doanh nghiệp (Carolyn Hotchkiss, bản dịch Võ Hưng Thanh, 1993); Conflicting Jurisdictions in an Online Environment - The Yahoo! Case (Kaltons Solicitors, 2001).

Vị trí của luận án: Tổng hợp các nghiên cứu trên cho thấy phần lớn chỉ tiếp cận từng khía cạnh lý luận riêng lẻ hoặc từng chế định chuyên ngành cụ thể. Luận án giải quyết khoảng trống học thuật bằng việc phân tích một cách tổng thể, toàn diện và có tính hệ thống về cả cơ sở lý luận lẫn thực tiễn lập pháp, thực tiễn áp dụng hệ thống quy phạm pháp luật xung đột tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:

  • Lý thuyết xung đột pháp luật (conflict of laws): Hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ xã hội mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài.
  • Khái niệm quy phạm pháp luật xung đột: Là loại quy phạm không trực tiếp quy định quyền, nghĩa vụ và chế tài của các chủ thể mà chỉ xác định hệ thống pháp luật của quốc gia nào được áp dụng để điều chỉnh quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài.
  • Cấu trúc đặc thù của quy phạm xung đột: Luận án phân tích cấu trúc quy phạm gồm hai bộ phận cấu thành là Phần phạm vi (chỉ ra quan hệ xã hội được điều chỉnh) và Phần hệ thuộc (chỉ ra hệ thống pháp luật của quốc gia được áp dụng).
  • Lý thuyết về tính hệ thống của pháp luật: Dựa trên quan điểm của GS. Đào Trí Úc về tính khách quan, tính hệ thống thống nhất của pháp luật và mối quan hệ biện chứng giữa cái chung (Bộ luật Dân sự) và cái riêng (các luật chuyên ngành).
  • Khung phân tích các hệ thuộc xung đột: Xem xét sự vận hành của các hệ thuộc luật kinh điển trong tư pháp quốc tế bao gồm luật nhân thân, luật quốc tịch pháp nhân, luật nơi có tài sản, luật tòa án, luật nơi thực hiện hành vi, luật nơi xảy ra vi phạm, luật lựa chọn, luật quốc kỳ và luật nơi đăng ký phương tiện vận tải.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đặt hệ thống quy phạm xung đột như một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, phản ánh và chịu sự quyết định bởi cơ sở kinh tế - xã hội và sự vận động khách quan của các quan hệ dân sự quốc tế.
  • Phương pháp tổng hợp: Tổng kết các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn từ các công trình khoa học trong và ngoài nước để xây dựng khung lý thuyết toàn diện về hệ thống quy phạm xung đột.
  • Phương pháp so sánh và đối chiếu: So sánh quy định pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia điển hình (Nhật Bản, Trung Quốc, Ba Lan, Thái Lan, Anh, Hoa Kỳ); so sánh quy phạm pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử khác nhau; đối chiếu nội dung quy phạm với thực tiễn phát sinh tranh chấp.
  • Phương pháp phân tích luật thực định: Phân tích các điều khoản cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và các điều ước quốc tế nhằm chỉ ra tính đồng bộ, mâu thuẫn, chồng chéo và những điểm bất cập trong kỹ thuật lập pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Văn bản quy phạm pháp luật trong nước: Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Bộ luật Hàng hải năm 1990 và 2005; Luật Hàng không dân dụng năm 1991; Nghị định số 60/CP ngày 06/06/1997 và Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ.
  • Điều ước quốc tế: Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; Công ước Roma năm 1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng; Công ước Lahay năm 1905 và 1955; các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Liên bang Nga (1998), Việt Nam và Lào (1998), Việt Nam và Ucraina (2000), Việt Nam và Bungari (1986); 13 hiệp định/thỏa thuận hợp tác song phương về nuôi con nuôi.
  • Pháp luật nước ngoài: Luật về áp dụng pháp luật của Nhật Bản năm 1898; Bộ luật Dân sự Trung Quốc năm 1986; Luật Tư pháp quốc tế Ba Lan năm 1965; Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan năm 1925.

Nội dung chính theo từng chương

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột

Chương 1 xây dựng các luận điểm lý luận nền tảng về quy phạm xung đột và hệ thống quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế:

  1. Bản chất và cấu trúc quy phạm xung đột: Quy phạm xung đột là công cụ đặc thù để giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật. Khác với quy phạm thực chất (gồm giả định, quy định, chế tài), quy phạm xung đột chỉ gồm Phần phạm vi và Phần hệ thuộc. Một phạm vi có thể liên kết với nhiều hệ thuộc và ngược lại. Khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật của một quốc gia, toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành liên quan của quốc gia đó được áp dụng (văn bản, tập quán, án lệ).

  2. Phân loại quy phạm xung đột:

  • Theo hình thức: Quy phạm xung đột một chiều (bắt buộc áp dụng luật của quốc gia ban hành, thường dùng cho các lĩnh vực gắn với chủ quyền như bất động sản) và quy phạm xung đột hai chiều (chỉ ra nguyên tắc chung để dẫn chiếu đến luật Việt Nam hoặc luật nước ngoài).
  • Theo phạm vi: Quy phạm về năng lực hành vi, hợp đồng, thừa kế, hôn nhân và gia đình... Luận án chỉ rõ các quan hệ gắn với truyền thống, nhân thân cần quy phạm xung đột; các quan hệ gắn với công quyền, tố tụng hoặc thương mại quốc tế có thể ưu tiên dùng quy phạm thực chất.
  • Theo tính chất: Quy phạm xung đột mệnh lệnh (bắt buộc áp dụng một hệ thống luật xác định) và quy phạm xung đột tùy nghi (cho phép các bên thỏa thuận chọn luật, phổ biến trong quan hệ hợp đồng).
  • Theo nguồn chứa đựng: Quy phạm xung đột quốc gia (thông thường) và quy phạm xung đột thống nhất (nằm trong điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế).
  1. Các hệ thuộc cơ bản của quy phạm pháp luật xung đột: Luận án phân tích chi tiết khái niệm, phạm vi áp dụng, ưu điểm và nhược điểm của các hệ thuộc luật chủ yếu:
Tên hệ thuộc (Thuật ngữ La-tinh) Nội dung nguyên tắc dẫn chiếu Lĩnh vực áp dụng điển hình
Luật nhân thân (Lex personalis) Áp dụng luật liên quan đến nhân thân cá nhân (gồm Luật quốc tịch - Lex patriae và Luật nơi cư trú - Lex domicilii). Năng lực hành vi dân sự, điều kiện kết hôn, tuyên bố mất năng lực hành vi, thừa kế động sản.
Luật quốc tịch của pháp nhân (Lex societatis) Áp dụng luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch. Xác định tư cách chủ thể và năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài.
Luật nơi có tài sản (Lex rei sitae) Áp dụng luật của nước nơi tài sản đang tồn tại. Quyền sở hữu tài sản, các vật quyền khác, quan hệ thừa kế bất động sản.
Luật tòa án (Lex fori) Áp dụng luật của nước nơi có tòa án thụ lý giải quyết vụ việc. Thủ tục tố tụng dân sự, kinh doanh thương mại, ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Luật nơi thực hiện hành vi (Lex loci actus) Áp dụng luật của nước nơi hành vi pháp lý diễn ra (lex loci contractus, locus regit actum, lex loci solutionis, lex loci celebrationis, lex loci laboris). Hình thức hợp đồng, nội dung/nghĩa vụ hợp đồng, nghi thức kết hôn, xác lập quan hệ lao động.
Luật nơi xảy ra vi phạm (Lex loci delicti commissi) Áp dụng luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Luật lựa chọn (Lex voluntatis) Áp dụng hệ thống pháp luật do các bên thỏa thuận lựa chọn. Xác định quyền và nghĩa vụ trong các giao dịch hợp đồng dân sự, thương mại.
Luật quốc kỳ (Lex banderae) Áp dụng luật của quốc gia mà phương tiện vận tải mang cờ quốc tịch. Quyền sở hữu, thuê tàu, cứu hộ, vụ việc xảy ra trên tàu khi ở biển cả hoặc vùng quốc tế.
Luật nơi đăng ký phương tiện (Lex libri sitae) Áp dụng luật của quốc gia nơi phương tiện vận tải đăng ký. Xác lập quyền sở hữu tàu bay, chi phí cứu hộ tàu bay.
  1. Khái niệm và đặc điểm hệ thống quy phạm xung đột: Hệ thống quy phạm xung đột là một tập hợp các quy phạm xung đột trong các lĩnh vực khác nhau (dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại, tố tụng), có quan hệ tác động qua lại chặt chẽ tạo thành thể thống nhất. Hệ thống có 3 đặc điểm cơ bản:
  • Tồn tại mang tính khách quan, bắt nguồn từ đòi hỏi của thực tiễn các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
  • Chứa đựng yếu tố chủ quan, chịu sự chi phối bởi chủ quyền quốc gia và đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại.
  • Mang tính thống nhất và hài hòa: Quy phạm trong điều ước quốc tế ưu tiên áp dụng so với pháp luật trong nước; văn bản có thứ bậc hiệu lực rõ ràng; quy phạm xung đột trong Bộ luật Dân sự giữ vai trò cái chung, làm nền tảng cho quy phạm xung đột trong các luật chuyên ngành là cái riêng.
  1. Yếu tố ảnh hưởng và thực tiễn nước ngoài: Phân tích sự tác động của chính sách đối ngoại mở cửa; khảo sát mô hình xây dựng quy phạm xung đột theo luật riêng (Nhật Bản, Ba Lan) và mô hình phân tán trong các văn bản (Pháp, Hà Lan, Trung Quốc, Việt Nam).

Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam

Chương 2 tập trung khảo sát toàn diện hệ thống quy phạm xung đột thực định của Việt Nam theo tiến trình lịch sử và nội dung văn bản:

  1. Lịch sử phát triển: Rà soát quá trình hình thành các quy phạm xung đột từ sau mốc lịch sử 30/4/1975, gắn liền với các mốc đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế.

  2. Thực trạng quy phạm xung đột trong các văn bản pháp luật quốc gia:

  • Đánh giá quy định tại Phần thứ bảy Bộ luật Dân sự năm 2005 và so sánh với Bộ luật Dân sự năm 1995.
  • Đánh giá các quy định chuyên ngành trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Chương XI), Bộ luật Hàng hải năm 1990 và 2005, Luật Hàng không dân dụng năm 1991, các văn bản hướng dẫn như Nghị định 60/CP (1997) và Nghị định 138/2006/NĐ-CP (2006).
  • Chỉ ra các hạn chế thực định: Quy định còn tản mạn, thiếu các quy phạm mang tính định hướng nguyên tắc chung cho toàn ngành Tư pháp quốc tế; mâu thuẫn giữa luật chung và luật chuyên ngành; còn thiếu vắng quy phạm điều chỉnh một số quan hệ mới phát sinh.
  1. Thực trạng quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế:
  • Đánh giá hơn 10 Hiệp định tương trợ tư pháp song phương mà Việt Nam đã ký kết với các nước (Nga, Lào, Ucraina, Bungari...).
  • Đánh giá 13 hiệp định, thỏa thuận hợp tác song phương về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
  • Phân tích tính tương thích giữa quy phạm xung đột thống nhất trong điều ước quốc tế với quy phạm xung đột nội luật.
  1. Vấn đề áp dụng quy phạm xung đột trong thực tiễn:
  • Phân tích thực tiễn áp dụng qua các vụ việc giải quyết tranh chấp cụ thể về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, tranh chấp hợp đồng lao động đưa người đi làm việc ở nước ngoài, thừa kế nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
  • Nêu rõ các vướng mắc trong việc giải thích pháp luật, áp dụng nguyên tắc bảo lưu trật tự công cộng, xác định nội dung pháp luật nước ngoài và xử lý hiện tượng dẫn chiếu ngược (renvoi).

Chƣơng 3: Những quan điểm, phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam

Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống pháp luật xung đột:

  1. Tính tất yếu khách quan: Hoàn thiện quy phạm xung đột là đòi hỏi từ sự phát triển kinh tế thị trường, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu quốc tế và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền.

  2. Quan điểm cơ bản:

  • Quán triệt đường lối đối ngoại rộng mở, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước.
  • Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, phù hợp với nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng chủ quyền quốc gia.
  • Kết hợp hài hòa giữa việc bảo lưu trật tự công cộng với việc tôn trọng, áp dụng khách quan pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế.
  1. Phương hướng hoàn thiện:
  • Định hướng về mô hình lập pháp: Luận án lập luận không nên xây dựng một đạo luật riêng biệt về Tư pháp quốc tế tại thời điểm hiện tại, mà lựa chọn phương án tập trung và hoàn thiện Phần thứ bảy của Bộ luật Dân sự như một bộ phận hạt nhân của Tư pháp quốc tế Việt Nam.
  • Giải quyết mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự (luật chung) và các luật chuyên ngành (luật riêng) theo hướng đồng bộ, tránh xung đột nội tại.
  • Đẩy mạnh việc đàm phán, ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế song phương và đa phương chứa đựng quy phạm xung đột thống nhất.
  1. Các nhóm giải pháp cụ thể:
  • Sửa đổi, bổ sung cụ thể các quy phạm xung đột trong Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành (hôn nhân gia đình, thương mại, lao động, hàng hải, hàng không).
  • Hoàn thiện kỹ thuật xây dựng quy phạm: Bổ sung các hệ thuộc linh hoạt như luật nơi cư trú bên cạnh luật quốc tịch, quy định cụ thể về việc chọn luật trong hợp đồng.
  • Nâng cao năng lực của các cơ quan áp dụng pháp luật (Tòa án, cơ quan tư pháp) trong việc tra cứu, giải thích và áp dụng pháp luật nước ngoài.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các kết quả nghiên cứu và đóng góp mới chủ yếu sau:

  1. Về mặt lý luận:
  • Phân tích và làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm của hệ thống quy phạm xung đột; chỉ ra các yếu tố tác động và xác lập hệ thống các yêu cầu làm tiêu chí đánh giá thực trạng hệ thống quy phạm xung đột.
  • Phân tích toàn diện ưu điểm và hạn chế của phương pháp điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bằng quy phạm xung đột so với quy phạm thực chất.
  • Khái quát thực tiễn pháp lý quốc tế về áp dụng quy phạm xung đột, khẳng định quy phạm xung đột là bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời lý giải nguyên nhân quy phạm xung đột ở Việt Nam tồn tại rải rác trong nhiều văn bản mà chưa tập hợp trong một đạo luật riêng.
  1. Về mặt thực tiễn và giải pháp lập pháp:
  • Đánh giá có hệ thống thực trạng hệ thống quy phạm xung đột tại Việt Nam (trong văn bản quy phạm pháp luật nội địa và các điều ước quốc tế), chỉ rõ các hạn chế thực định và nguyên nhân của những bất cập đó.
  • Lập luận khoa học về việc không nên xây dựng một đạo luật riêng về Tư pháp quốc tế ở Việt Nam, mà xác định Phần thứ bảy của Bộ luật Dân sự là bộ phận trung tâm về tư pháp quốc tế; đưa ra giải pháp xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành.
  • Đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy phạm xung đột trong từng lĩnh vực chuyên biệt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế và phạm vi giới hạn của luận án:

  • Giới hạn thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung khảo sát hệ thống quy phạm pháp luật từ sau ngày thống nhất đất nước (30/4/1975) đến thời điểm nghiên cứu; không nghiên cứu hệ thống quy phạm xung đột ở miền Nam trước năm 1975.
  • Giới hạn nội dung: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các yếu tố nội tại của hệ thống quy phạm xung đột (mô hình, cấu thành, thứ bậc), chưa đi sâu phân tích toàn diện các yếu tố bên ngoài như toàn bộ cơ chế bảo đảm thi hành pháp luật.
  • Giới hạn tư liệu: Khảo sát thực tiễn áp dụng dựa trên một số vụ việc điển hình và tập trung phân tích các quy phạm có bất cập thay vì dàn trải toàn bộ văn bản pháp luật hiện hành.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục theo dõi và đánh giá việc hoàn thiện các quy phạm xung đột trong các lần sửa đổi Bộ luật Dân sự và luật chuyên ngành trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước.
  • Mở rộng nghiên cứu thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài và thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu học thuật phục vụ các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật (đặc biệt là chuyên ngành Luật Quốc tế và Tư pháp quốc tế): Dùng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu trong nghiên cứu và giảng dạy về xung đột pháp luật, cấu trúc quy phạm và các hệ thuộc tư pháp quốc tế.
  • Cơ quan lập pháp và cơ quan xây dựng chính sách (Quốc hội, Bộ Tư pháp, các ban soạn thảo văn bản luật): Tham khảo các lập luận về mô hình lập pháp, mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự và luật chuyên ngành, cũng như các đề xuất sửa đổi quy phạm xung đột cụ thể.
  • Cơ quan tư pháp và hành chính (Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan hộ tịch, luật sư): Tham khảo cơ sở lý luận và các phân tích thực tiễn để áp dụng đúng quy phạm xung đột, quy tắc dẫn chiếu và hiệp định tương trợ tư pháp trong giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy phạm pháp luật xung đột có cấu trúc gồm những bộ phận nào? Quy phạm xung đột có cấu trúc đặc thù gồm hai bộ phận: Phần phạm vi (chỉ ra quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi quy phạm) và Phần hệ thuộc (chỉ ra hệ thống pháp luật của quốc gia được áp dụng để điều chỉnh quan hệ đó). Quy phạm xung đột không có ba bộ phận giả định, quy định, chế tài như quy phạm pháp luật thông thường.

2. Luận án đề xuất mô hình lập pháp nào cho hệ thống quy phạm xung đột ở Việt Nam? Luận án lập luận rằng Việt Nam không nên xây dựng một đạo luật riêng về Tư pháp quốc tế, mà cần xác định Phần thứ bảy của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là bộ phận hạt nhân trung tâm, đồng thời hoàn thiện và xử lý đồng bộ mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự với các quy phạm xung đột trong các luật chuyên ngành.

3. Quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế và quy phạm xung đột trong luật trong nước có thứ bậc áp dụng như thế nào? Quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên được ưu tiên áp dụng so với quy phạm xung đột trong văn bản pháp luật quốc gia, dựa trên nguyên tắc tự nguyện thực hiện cam kết quốc tế trong công pháp quốc tế và quy định tại Khoản 2 Điều 759 Bộ luật Dân sự năm 2005.

4. Hệ thuộc luật nhân thân (lex personalis) gồm những loại nào và có ưu nhược điểm gì? Hệ thuộc luật nhân thân gồm Luật quốc tịch (lex patriae) và Luật nơi cư trú (lex domicilii). Luật quốc tịch có ưu điểm là tính ổn định cao nhưng nhược điểm là gây khó khăn cho người nhập cư lâu năm hòa nhập hoặc trường hợp người có nhiều quốc tịch. Luật nơi cư trú có ưu điểm linh hoạt, hỗ trợ người nhập cư nhưng nhược điểm là kém ổn định do nơi cư trú dễ thay đổi.

5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể nào? Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp cụ thể gồm phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp đối chiếu và phương pháp phân tích luật thực định.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quy phạm xung đột, hệ thống quy phạm xung đột và các hệ thuộc cơ bản trong tư pháp quốc tế. Thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật thực định và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, công trình đã chỉ rõ những bất cập trong kỹ thuật lập pháp và thực tiễn áp dụng. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất định hướng giữ vững vai trò trung tâm của Bộ luật Dân sự thay vì ban hành đạo luật riêng, đồng thời đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam.