Chương 1 MOT SO VAN DE LÍ LUẬN VE HANH VI PHÁP LY VO HIEU DO BI NHAM LAN 1. Khái quát chung về hành vi pháp lý và hành vi pháp lý vô hiệu 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại hành vi pháp lý 1. Khái niệm Hành vi pháp lý là một trong những vấn đề quan trọng của khoa học pháp lý, là cơ sở lý luận của pháp luật nói chung và là nền tảng của luật tư.
Chính vì tầm quan trọng đó, tác giả đi sâu phân tích khái niệm và đặc điểm của hành vi pháp lý dựa trên khoa học pháp lý và thực tế pháp luật của Việt Nam. Trong cuộc sống hàng ngày để thoả mãn các nhu cầu của chính mình cũng như khi tiến hành các hoạt động kinh tế, thương mại con người có thé thực hiện vô số những hành vi, những hành vi này có thé làm biến đổi các quyền và nghĩa vụ dân sự cho chính họ cũng như cho những người khác. Trong vô số những hành vi do con người thực hiện, có những hành vi làm phát sinh, thay đôi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự theo pháp luật. Hành vi pháp lý là một dạng của quan hệ pháp luật dân sự phát sinh trên cơ sở một hành vi có ý chí của một hoặc các bên xác lập quan hệ pháp luật dân sự đó với mong muốn làm phát sinh, thay đổi hoặc cham dứt các quyên, nghĩa vụ dân sự [16, tr128].
Hành vi pháp lý được Bộ luật dân sự Việt Nam gọi là “giao dịch dân sự” và còn được khoa học pháp lý gọi là “giao dịch pháp lý”. Từ “giao dịch” trong cuộc sống thường nhật dùng dé chỉ một loại hoạt động sống của con người mà tại đó người ta gặp gỡ nhau một cách trực tiếp hoặc thông qua một phương tiện giao tiếp nào đó để trao đồi, bàn thảo với nhau về một van dé nào đó, nhất là trong kinh doanh, thương mại. Thế nhưng trong luật học, thuật ngữ “giao dịch” đứng đơn lẻ như vậy trong một ngữ cảnh pháp lý cụ thể thường ngụ ý về việc biểu lộ ý chí và thống nhất ý chí làm phát sinh ra một hệ quả pháp lý nào đó. Tuy nhiên xây dựng thuật ngữ “giao dịch dân sự” không thực sự thích hợp để chỉ chung tất cả các loại hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương của luật tư mà trong đó có cả hợp đồng thương mại.
Mặc dù chưa được ghi nhận khái nệm về hành vi pháp lý tạ BLDS Việt Nam nhưng về bản chất và cách phân loại giao dịch dân sự dựa trên khoa học pháp lý về hành vi pháp lý. Chính vì có sự hợp nhất khái niệm và xét về phương diện phân tích pháp luật dân sự Việt Nam, tác giả sẽ thống nhất cách hiểu giao dịch dân sự trong BLDS Việt Nam là hành vi pháp lý. Phân biệt hành vi pháp lý và sự kiện pháp lý Hành vi pháp lý và sự kiện pháp lý là hai khái niệm rất dễ nhằm lẫn, thường không được sử dụng với tư cách vốn có của nó. Hành vi pháp lý là “sự biểu thị của ý chí con người nhằm tạo ra những hệ quả pháp lý” còn sự kiện pháp lý là những “hiện tượng bất kỳ mà quy phạm pháp luật gắn cho nó những hệ quả pháp lý nằm ngoài mong muốn (ý chí) của các bên liên quan”.4] Như vậy, ý chí của chủ thé đóng vai trò quan trọng và tiên quyết trong việc xác định và phân loại.
Trong hành vi pháp lý, ý chí của chủ thé luôn hướng tới hệ quả pháp lý. Chủ thê của hành vi nhận thức và luôn mong muốn, tìm kiếm hệ quả này. Nói cách khác, hành vi pháp lý là biểu hiện của ý chí làm phát sinh các quyền và nếu không có ý chí này thì các hệ quả quyền không sản sinh. Như vậy, cần có 3 yếu tố cau thành dé được xem là một hành vi pháp lý: biểu thị của ý chí tạo nên hệ quả pháp lý; chủ thé của quan hệ pháp luật mong muốn hệ quả pháp lý đó; hệ quả pháp lý đó chỉ có thé xuất hiện khi có ý chí của chủ thé.
Trong pháp luật của Pháp, Bộ luật dân sự 1804 của Pháp trước đây không đưa ra định nghĩa về hành vi pháp lý và sự kiện pháp lý, mà chỉ liệt kê các loại nguồn của nghĩa vụ. Nhưng trong lần sửa đôi về luật nghĩa vụ vào năm 2016 đã đưa ra định nghĩa về hành vi pháp lý và nghĩa vụ pháp lý tại Điều 1100-1 và 1100-2. Theo đó: - Hành vi pháp lý là biểu hiện của ý chí nhằm làm phát sinh các hệ quả pháp ly. Đó có thé là hành vi có tính thỏa ước hoặc đơn phương.
- Sự kiện pháp lý là các hành xử hoặc sự kiện mà pháp luật gắn cho nó những hệ quả pháp lý. Theo đó, hành vi pháp lý tuân theo các điều kiện về hiệu lực và hệ qua của các quy dinh áp dụng cho hợp đồng [29, tr. Vi dụ: một người di ngắm chợ Tết do vô ý chạm túi sách vào lọ hoa bằng sứ được bày trên mặt bàn và làm lọ hoa rơi xuống đất vỡ. Trong trường hợp này, điều chắc chắn là người đó phải có trách nhiệm đền chiếc lọ vỡ cho chủ cửa hàng.
Nói cách khác là trong trường hợp này, chủ cửa hàng có quyền yêu cầu người đó bôi thường thiệt hại do việc người đó đã làm vỡ bình hoa, còn người làm vỡ bình hoa có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho chủ cửa hàng. Như vậy, quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ sự kiện chiếc bình hoa bị vỡ đã làm phát sinh quan hệ pháp luật bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, điều dé nhận thấy là quan hệ về quyền và nghĩa vụ của các bên (người chủ cửa hàng và người làm vỡ lọ hoa) không phải được hình thành trên cơ sở hành vị có ý chí (hành vi pháp ly), mà được hình thành do việc một người vô ý làm vỡ bình hoa (hành vi trái pháp luật). Sở di chúng ta khang định quan hệ bồi thường thiệt hại nói trên hình thành trên cơ sở một hành vi trái pháp luật (sự kiện pháp lý) chứ không phải được hình thành trên cơ sở hành vi pháp lý bởi mặc dù việc làm vỡ bình hoa cũng là một hành vi nhưng hành vi này không nhằm mục đích làm phát sinh một hậu quả pháp lý cho chính mình và người thực hiện hành vi đó cũng không hè biểu hiện ý chí về VIỆC mong muốn xác lập quan hệ bồi thường thiệt hại đó.
Do đó nó không phải là hành vi pháp lý [16, tr. Đặc điểm của hành vi pháp lý Hành vi pháp lý có các đặc điểm sau: Được tạo thành từ hành vi tuyên bồ ý chí của chủ thé quan hệ pháp luật dân sự nhằm đạt được một kết quả nhất 10 định; Có sự thống nhất giữa hậu quả pháp lý xảy ra với tuyên bố ý chí và nội dung của tuyên bố ý chí; Không trái với pháp luật và đạo đức xã hội; Mang tính xác thực và có tính kha thi; Được pháp luật thừa nhận và đảm bảo thực hiện [16, tr. Thứ nhất, phải có sự tuyên bo ý chí (thể hiện ý chí) của một hoặc các chủ thể thực hiện hành vi đó. Tuyên bố ý chí được tạo thành bởi hai yếu tố: hành vi tuyên bố công khai các ý định và ý định thật sự mong muốn những hậu quả pháp lý nhất định.
Ý chí là khả năng tự xác định mục đích cho hành động và hướng hoạt động, khắc phục khó khăn nhằm đạt được mục đích đã đặt ra. Nói cách khác, ý chí được hiểu chi là điều mà người ta mong muốn, là nguyên nhân thúc day họ (động lực bên trong) hướng tới việc thực hiện những hành vi nhất định dé đạt được kết qua đã được xác định. Như vậy, ý muốn và việc lựa chọn biện pháp đề đạt được ý muốn đó thuộc suy nghĩ chủ quan của con người các chủ thé va do đó ngoài chính người đó những người xung quanh không thé biết được người này mong muốn gì. Dé những người xung quanh có thé nhận biết người đó đang suy nghĩ gì, điều kiện duy nhất là người đó phải biểu lộ mong muốn của mình ra bên ngoài.
Việc một người mong muốn biểu lộ nội tâm ra bên ngoài, làm cho người khác thấy rõ nội dung ý chí của mình được gọi là tuyên bố ý chí. Hay nói cách khác, hành vi tuyên bố là hành vi công khai ý chí nhằm làm cho người khác biết về ý định, mong muốn của mình về một hậu quả pháp lý nào đó sẽ được xảy ra trong tương lai. Thông thường, các tuyên bố ý chí đều xuất phát từ ý định thật sự (nội tâm) của người tuyên bố nhưng trên thực tế cũng có những trường hợp tuyên bố ý chí không xuất phát từ ý định thật sự (nội tâm) của người tuyên bố hoặc 11 tuyên bố ý chí đó không hoàn chỉnh, bị bóp méo do có sự tác động từ bên ngoài. Trong trường hợp này nếu công nhận hậu quả pháp lý của việc tuyên bố ý chí đó thì trong lợi ích của bên có thé không được bảo đảm.
Do vậy, pháp luật đòi hỏi tuyên bố ý chí phải xuất phát từ ý định thật sự của người tuyên bố và tuyên bố đó phải dựa trên cơ sở hoàn toàn độc lập, tự nguyện, tự giác của người tuyên bố [16, tr. Hành vi pháp lý phải là sự thé hiện ý chí của chủ thé tham gia [37, tr. Hành vi pháp lý luôn thé hiện ý chí của chủ thé trong giao dịch. Hanh vi pháp lý là hợp đồng hay hành vi pháp lý đơn phương thì đều là hành vi có ý thức của chủ thể tham gia nhằm đạt được những mục đích nhất định.
Trường hợp hành vi pháp lý là hợp đồng thì đó là sự thể hiện và thống nhất ý chí của từ các bên chủ thé. Hành vi pháp lý là hành vi pháp ly đơn phương thì đó là sự thé hiện ý chí của một bên chủ thé. Nội dung của hành vi pháp lý phải nhằm truyền tải những suy nghĩ bên trong của mỗi chủ thé. Ý chí là những suy nghĩ bên trong của mỗi chủ thê nên để xác lập hành vi pháp lý thì ý chỉ cần phải được thé hiện ra bên ngoài dưới hình thức nhất định.
Do đó, hành vi pháp ly là sự thống nhất giữa ý chí bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể. Thiếu sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí, hành vi pháp lý có thé bi vô hiệu.