Tổng quan luận án

Chế định mang thai hộ là một trong những nội dung pháp lý phức tạp, gắn liền với quyền con người, quan hệ hôn nhân gia đình và các tiến bộ y học về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Luận án tiến sĩ luật học "Chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lê Huyền (chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, mã số 9380103, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2020 dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ và PGS.TS. Nguyễn Thị Lan) tập trung làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Việt Nam.

+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                                    THÔNG TIN CHUNG VỀ LUẬN ÁN                                      |
+----------------------+-----------------------------------------------------------------------------+
| Tên đề tài           | Chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam                               |
| Tác giả              | Nguyễn Thị Lê Huyền                                                         |
| Cơ sở đào tạo        | Trường Đại học Luật Hà Nội                                                  |
| Chuyên ngành         | Luật Dân sự và Tố tụng dân sự (Mã số: 9380103)                              |
| Người hướng dẫn      | PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ; PGS.TS. Nguyễn Thị Lan                               |
| Thời gian nghiên cứu | Giai đoạn thực tiễn 2015 - 2019 (Bảo vệ năm 2020)                           |
+----------------------+-----------------------------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Xuất phát từ truyền thống văn hóa Á Đông, quyền làm cha, làm mẹ và việc sinh con duy trì nòi giống giữ vị trí quan trọng trong đời sống hôn nhân. Theo số liệu thống kê được tác giả viện dẫn, tỷ lệ vô sinh tại Việt Nam chiếm khoảng 7,7%, tương đương khoảng 1 triệu cặp vợ chồng gặp tình trạng hiếm muộn. Trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 được ban hành, hệ thống pháp luật Việt Nam (tiêu biểu là Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học) nghiêm cấm hoàn toàn hành vi mang thai hộ. Rào cản này dẫn đến việc hình thành các "hợp đồng đẻ thuê" phi pháp trong nước hoặc xu hướng tìm đến các quốc gia cho phép mang thai hộ (như Thái Lan, Ấn Độ), gây ra nhiều hệ lụy pháp lý phức tạp về quyền nhân thân, nguy cơ bỏ rơi trẻ em khi sinh ra bị dị tật bẩm sinh (hội chứng Down) và tranh chấp xác định cha mẹ.

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (thông qua ngày 19/6/2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) lần đầu tiên ghi nhận và cho phép thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (MTHVMĐNĐ). Tuy nhiên, sau 5 năm thi hành, các quy định pháp lý bộc lộ nhiều điểm nghẽn: điều kiện cho phép thực hiện quá chặt chẽ khiến nhiều cặp vợ chồng thực sự có nhu cầu không thể tiếp cận; quy định về chủ thể mang thai hộ và chủ thể nhờ mang thai hộ chưa bao quát; chế tài xử lý vi phạm chưa đồng bộ; hiện tượng mang thai hộ "chui" và thương mại hóa vẫn diễn biến phức tạp. Do đó, luận án xác định khoảng trống nghiên cứu là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu độc lập, có hệ thống và toàn diện ở cấp độ tiến sĩ về chế định mang thai hộ dưới góc độ Luật Dân sự và Hôn nhân gia đình tại Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là đánh giá toàn diện và có hệ thống cơ sở lý luận về chế định mang thai hộ, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật Việt Nam về mang thai hộ nói chung và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nói riêng; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.

Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của mang thai hộ, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo dưới các góc độ nhân đạo, quyền con người; làm rõ khái niệm, đặc điểm và nội dung của chế định mang thai hộ trong hệ thống pháp luật.
  2. Nghiên cứu lịch sử phát triển của pháp luật về mang thai hộ trên thế giới và tại Việt Nam; phân tích quan điểm lập pháp tại các quốc gia điển hình (cho phép, cho phép có điều kiện hoặc cấm đoán); đánh giá các yếu tố văn hóa, đạo đức, kinh tế, xã hội tác động đến pháp luật điều chỉnh mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ở Việt Nam.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế định mang thai hộ và so sánh với kinh nghiệm quốc tế.
  4. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Việt Nam giai đoạn 2015 - 2019; chỉ ra những thuận lợi, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của những tồn tại.
  5. Xây dựng phương hướng và đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về chế định mang thai hộ; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh quan hệ mang thai hộ (trọng tâm là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành); pháp luật của một số quốc gia trên thế giới; thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua các vụ việc cụ thể tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu pháp luật nội dung điều chỉnh mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không có yếu tố nước ngoài; không đi sâu vào thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp dân sự.
    • Về không gian và thời gian: Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận một khối lượng lớn tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu.

Nhóm công trình Tác giả & Năm công bố Tên công trình / Nơi công bố Nội dung trọng tâm liên quan
Luận án, Luận văn Trương Hồng Quang (2019) Luận án TS, Học viện KHXH Đánh giá thực trạng người LGBTI sử dụng dịch vụ mang thai hộ và các rào cản pháp lý về quyền có con, giám hộ con.
Bùi Quỳnh Hoa (2014) Luận văn ThS, ĐH Luật Hà Nội Khái quát lý luận về mang thai hộ, ý nghĩa nhân văn và xu hướng xây dựng pháp luật điều chỉnh tại Việt Nam.
Phạm Thị Hương Giang (2015) Luận văn ThS, Khoa Luật - ĐHQGHN Phân tích quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trong Luật HN&GĐ 2014 và khả năng áp dụng thực tế.
Nguyễn Thị Phương Linh (2018) Luận văn ThS, ĐH Luật Hà Nội Đánh giá tình hình thực hiện chế định mang thai hộ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Trần Thị Thu Hằng (2018) Luận văn ThS, Khoa Luật - ĐHQGHN Cơ chế pháp lý và xã hội nhằm kiểm soát hoạt động mang thai hộ ở Việt Nam.
Đỗ Thùy Dương (2016) Luận văn ThS, ĐH Luật Hà Nội Nghiên cứu thụ tinh trong ống nghiệm; chỉ ra điểm mâu thuẫn về khái niệm người thân thích giữa Luật HN&GĐ 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP.
Vũ Ngọc Huy (2017) Luận văn ThS, ĐH Luật Hà Nội Thủ tục và chứng cứ xác định quan hệ cha, mẹ, con khi sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ.
Bài báo Tạp chí Nguyễn Văn Cừ (2016) Tạp chí Luật học, số 6/2016 Phân tích điều kiện, quyền và nghĩa vụ các bên trong mang thai hộ; phân biệt mang thai hộ trực tiếp và gián tiếp.
Nguyễn Thị Lan (2014, 2015, 2017) Tạp chí Dân chủ & Pháp luật; Tạp chí Luật học; Tạp chí TAND Phân tích tính khoa học của quy phạm xác định cha mẹ con; mối quan hệ giữa Luật HN&GĐ 2014 với BLTTDS 2015.
Nguyễn Xuân Hợi, Nguyễn Thanh Tùng (2017) Tạp chí Y - Dược học quân sự, số 3/2017 Khảo sát lâm sàng, cận lâm sàng, độ tuổi, chỉ số BMI và nguyên nhân chỉ định mang thai hộ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
Huỳnh Thị Trúc Giang (2015) Tạp chí Khoa học ĐH Cần Thơ, số 40/2015 Ranh giới mong manh giữa nhân đạo và thương mại; khó khăn trong kiểm chứng điều kiện "chưa có con chung".
Ngô Thị Anh Vân (2017) Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13/2017 Giải quyết hậu quả pháp lý khi có vi phạm điều kiện mang thai hộ và trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con dị tật.
Lương Thị Thu Hà (2015) Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 221/2015 Đề xuất mở rộng quyền mang thai hộ cho phụ nữ đơn thân và các cặp vợ chồng có con chung bị khuyết tật.
Hoàng Thị Hải Yến (2018) Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số 9/2018 Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng khi người vợ đang mang thai hộ hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Nguyễn Huy Cường (2016) Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số 1/2016 Bất cập về quyền nhân thân và nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng đứa trẻ khi xảy ra tranh chấp từ chối nhận con tại Tòa án.
Trần Đức Thắng (2016) Tạp chí Nghề Luật, số 3/2016 Đặc điểm pháp lý của MTHVMĐNĐ; điều kiện cơ sở y tế và chế độ bảo hiểm xã hội thai sản cho người mang thai hộ.
Sách chuyên khảo & Tài liệu quốc tế Trương Hồng Quang (2014) Sách chuyên khảo, NXB Chính trị quốc gia Phân tích quyền làm cha mẹ của nhóm LGBT; đề xuất mô hình thụ tinh kết hợp mang thai hộ cho người độc thân và chuyển giới.
Lê Xuân Tùng (2016) Luận án TS, ĐH Southampton (UK) Khía cạnh đạo đức và pháp lý của mang thai hộ tại Việt Nam; tác động tiêu cực của thị trường chợ đen và quyền sinh sản.
Eva Steiner (2002) Tạp chí ICLQ, Vol. 51, No. 4 Phân tích lý do Cộng hòa Pháp cấm tuyệt đối mang thai hộ: bảo vệ nguyên tắc cơ thể con người không phải đối tượng hợp đồng.
Elizabeth S. Scott (2009) Tạp chí Law & Contemporary Problems, Vol. 72 Đạo luật mang thai hộ bang Illinois (Hoa Kỳ) năm 2004 và bài học từ vụ án Baby M về thương mại hóa mang thai hộ.
Richard F. Storrow (2018) NC J. Int'l L. & Com. Reg., Vol. 43 Phán quyết của Tòa án Nhân quyền Châu Âu về du lịch sinh sản và việc bảo vệ quyền công dân của trẻ em sinh ra từ mang thai hộ.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Qua tổng quan tài liệu, tác giả nhận thấy các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở các bài báo tạp chí hoặc luận văn thạc sĩ với phạm vi khảo sát hẹp, phân tích cục bộ một số điều khoản của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 hoặc tiếp cận thuần túy dưới góc độ y học. Chưa có công trình nào đánh giá toàn diện chế định mang thai hộ trong hệ thống pháp luật thực định Việt Nam, đặt trong mối liên hệ đồng bộ giữa Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 với Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về chế định mang thai hộ, tổng kết thực tiễn áp dụng giai đoạn 2015 - 2019 và đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án được triển khai dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, gắn liền với tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về hôn nhân, gia đình và bảo vệ quyền con người. Khung phân tích của luận án đặt chế định mang thai hộ trong mối tương quan giữa quyền làm cha mẹ (quyền sinh sản) với trật tự đạo đức xã hội, lợi ích tốt nhất của trẻ em và sự kiểm soát của Nhà nước nhằm ngăn ngừa hiện tượng thương mại hóa cơ thể con người.

+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                                KHUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU                                        |
+------------------------------+---------------------------------------------------------------------+
| Phương pháp lịch sử          | Khảo cứu sự hình thành kỹ thuật y học và tiến trình lập pháp điều   |
|                              | chỉnh mang thai hộ trên thế giới và tại Việt Nam.                   |
+------------------------------+---------------------------------------------------------------------+
| Phương pháp phân tích        | Luận giải chi tiết từng quy phạm pháp luật thực định về điều kiện,  |
| và tổng hợp                  | hồ sơ, quyền nghĩa vụ, chế độ thai sản và xác định cha mẹ con.      |
+------------------------------+---------------------------------------------------------------------+
| Phương pháp so sánh luật học | Đối chiếu mô hình lập pháp của Việt Nam với các nhóm nước cấm tuyệt |
|                              | đối (Pháp, Đức), cho phép có điều kiện (Anh, Nga) và thương mại.   |
+------------------------------+---------------------------------------------------------------------+
| Phương pháp xã hội học       | Đánh giá các yếu tố phong tục, tâm lý Á Đông, định kiến đạo đức tác |
| pháp luật                    | động đến hiệu quả thực thi quy định mang thai hộ.                   |
+------------------------------+---------------------------------------------------------------------+
| Phương pháp nghiên cứu       | Phân tích các tranh chấp thực tế, các ca mang thai hộ tại bệnh viện |
| tình huống điển hình         | và các vụ án quốc tế (như vụ kiện Baby M tại Hoa Kỳ).               |
+------------------------------+---------------------------------------------------------------------+
| Phương pháp thống kê         | Tổng hợp dữ liệu y tế về vô sinh (7,7%) và các ca thụ tinh trong    |
|                              | ống nghiệm - mang thai hộ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.         |
+------------------------------+---------------------------------------------------------------------+

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu của luận án bao gồm:

  1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ (Hiến pháp, Luật HN&GĐ năm 2000 và 2014, BLDS năm 2005 và 2015, BLHS năm 2015, Luật BHXH năm 2014, Nghị định số 12/2003/NĐ-CP, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP).
  2. Văn bản quy phạm pháp luật và án lệ của một số quốc gia: Đạo luật mang thai hộ bang Illinois (Hoa Kỳ), pháp luật Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga, Cộng hòa Liên bang Đức, Ấn Độ (Surrogacy Regulation Bill 2019) và phán quyết của Tòa án Nhân quyền Châu Âu.
  3. Báo cáo tổng kết, số liệu y tế và hồ sơ thực tiễn thực hiện kỹ thuật mang thai hộ tại các bệnh viện phụ sản được Bộ Y tế cấp phép tại Việt Nam giai đoạn 2015 - 2019.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến mang thai hộ theo 5 nhóm: (1) Luận văn, luận án; (2) Bài viết trên tạp chí chuyên ngành; (3) Đề tài nghiên cứu khoa học, kỷ yếu hội thảo; (4) Sách chuyên khảo; (5) Tài liệu nước ngoài.

Trên cơ sở đánh giá những kết quả đã đạt được, tác giả chỉ ra các điểm còn tồn tại trong lý luận và thực tiễn thi hành. Từ đó, chương 1 xác định 3 nhóm câu hỏi nghiên cứu và định hướng triển khai của luận án:

  • Nhóm 1 (Lý luận): Bản chất pháp lý, khái niệm và nội hàm của chế định mang thai hộ là gì? Những yếu tố nào tác động đến việc ghi nhận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trong pháp luật Việt Nam?
  • Nhóm 2 (Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành): Hệ thống pháp luật hiện hành quy định như thế nào về điều kiện, hồ sơ, quyền nghĩa vụ của các bên và xác định quan hệ cha mẹ con? Thực tiễn áp dụng từ năm 2015 đến năm 2019 gặp những rào cản và vướng mắc gì?
  • Nhóm 3 (Giải pháp): Cần hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo những định hướng và phương án lập pháp cụ thể nào?

Chương 2: Những vấn đề lý luận về chế định mang thai hộ

Chương 2 tập trung xây dựng nền tảng lý luận về mang thai hộ và chế định mang thai hộ trong hệ thống pháp luật:

  • Khái niệm và đặc điểm: Luận án làm rõ khái niệm mang thai hộ dưới góc độ sinh học và xã hội; phân biệt mang thai hộ truyền thống (người mang thai hộ sử dụng noãn của chính mình) và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (sử dụng phôi hình thành từ noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng nhờ mang thai hộ, không mang huyết thống của người mang thai hộ). Chế định mang thai hộ được xác định là một phân hệ quy phạm thuộc ngành luật Hôn nhân và Gia đình và ngành luật Dân sự, điều chỉnh quan hệ nhân thân và tài sản phát sinh từ việc mang thai hộ. MTHVMĐNĐ có các đặc điểm cơ bản: tính nhân đạo - phi thương mại, tính tự nguyện, tính thỏa thuận và tính giới hạn chặt chẽ về chủ thể.
  • Lịch sử và quan điểm lập pháp quốc tế: Luận án phân tích tiến trình lập pháp trên thế giới và chia thành 3 nhóm quan điểm lập pháp điển hình:
    1. Nhóm cấm tuyệt đối (tiêu biểu là Pháp, Đức): Dựa trên quan điểm bản thể học (người sinh ra đứa trẻ mặc nhiên là mẹ) và nguyên tắc thân thể con người không thể là đối tượng của hợp đồng nhằm ngăn ngừa thương mại hóa.
    2. Nhóm cho phép mang thai hộ có điều kiện/nhân đạo (tiêu biểu là Anh, Nga, Việt Nam): Thừa nhận quyền sinh sản và hỗ trợ các cặp vợ chồng vô sinh có con cùng huyết thống trên cơ sở kiểm soát chặt chẽ mục đích phi thương mại.
    3. Nhóm thừa nhận cả mang thai hộ thương mại (tiêu biểu là một số bang của Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ trước đây): Coi mang thai hộ là một dạng hợp đồng dịch vụ hợp pháp dựa trên quyền tự do ý chí và tự định đoạt của cá nhân.
  • Các yếu tố tác động và nguyên tắc điều chỉnh: Tác giả phân tích 4 nhóm yếu tố tác động tại Việt Nam gồm: phong tục tập quán; tâm lý, đạo đức; kinh tế - xã hội; chính sách dân số và quyền con người. Đồng thời, chương 2 xác lập các nguyên tắc cốt lõi: tôn trọng và bảo đảm quyền làm cha mẹ; bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em; tôn trọng sự tự nguyện và nguyên tắc phi thương mại.

Chương 3: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và thực tiễn thực hiện

Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định và tổng kết thực tiễn thi hành giai đoạn 2015 - 2019:

  • Nội dung quy định pháp luật:
    • Điều kiện mang thai hộ: Điều kiện đối với bên nhờ mang thai hộ (phải là cặp vợ chồng đang không có con chung, người vợ không thể mang thai và sinh con dù đã áp dụng hỗ trợ sinh sản, được tổ chức y tế có thẩm quyền xác nhận); điều kiện đối với bên mang thai hộ (phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng, đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần, đủ điều kiện sức khỏe, có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng nếu đã kết hôn).
    • Hồ sơ mang thai hộ: Phân tích danh mục giấy tờ pháp lý và y tế theo quy định của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP.
    • Quyền, nghĩa vụ và quan hệ nhân thân: Xác định con sinh ra từ MTHVMĐNĐ là con chung của vợ chồng bên nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm thụ thai; nghĩa vụ giao - nhận con; quyền lợi bảo hiểm y tế và chế độ an sinh xã hội.
    • Giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm: Phân tích Điều 187 Bộ luật Hình sự năm 2015 về "Tội mang thai hộ vì mục đích thương mại", các quy định xử phạt vi phạm hành chính và cơ chế giải quyết tranh chấp tại Tòa án khi các bên vi phạm thỏa thuận hoặc từ chối nhận con.
  • Thực tiễn thực hiện và các vướng mắc:
    • Qua số liệu thống kê tại các cơ sở y tế đủ điều kiện (như Bệnh viện Phụ sản Trung ương), việc cho phép MTHVMĐNĐ đã giúp nhiều cặp vợ chồng có con hợp pháp.
    • Tuy nhiên, thực tiễn nảy sinh nhiều hạn chế: quy định điều kiện "người thân thích cùng hàng" quá hẹp dẫn đến bế tắc cho nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn; bất cập trong kiểm chứng điều kiện "chưa có con chung" đối với các cặp vợ chồng không cùng nơi đăng ký thường trú; khó khăn trong việc phân định các khoản chi phí bồi dưỡng sức khỏe hợp lý với hành vi trả tiền mang tính chất thương mại; tranh chấp pháp lý phức tạp khi bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận trẻ dị tật hoặc trường hợp cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ qua đời trước khi đứa trẻ sinh ra.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện chế định mang thai hộ

Chương 4 đề xuất các giải pháp đồng bộ về mặt lập pháp và tổ chức thực thi:

  • Bốn phương hướng hoàn thiện: (1) Hiện thực hóa các nguyên tắc về quyền con người; (2) Bảo đảm nguyên tắc nhân đạo và hài hòa lợi ích giữa các chủ thể; (3) Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; (4) Bảo đảm tính khả thi và có tính dự báo.
  • Hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể:
    • Mở rộng phạm vi chủ thể có quyền nhờ mang thai hộ cho phụ nữ đơn thân, nam giới độc thân và người thuộc nhóm LGBTI nhằm bảo đảm quyền sinh sản bình đẳng.
    • Cho phép các cặp vợ chồng đã có con chung nhưng con bị khuyết tật, bệnh hiểm nghèo không do yếu tố di truyền được quyền nhờ mang thai hộ.
    • Mở rộng phạm vi người thân thích cùng hàng, xác định rõ các điều kiện về hôn nhân, huyết thống nhưng nới rộng bàng hệ họ hàng.
    • Sửa đổi quy định về sự đồng ý của người chồng bên mang thai hộ: loại trừ trường hợp người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi (theo Điều 22, Điều 23 BLDS năm 2015).
    • Quy định khung độ tuổi của người mang thai hộ từ 20 đến 40 tuổi (tham khảo pháp luật Liên bang Nga) và làm rõ quy định "chỉ được mang thai hộ một lần thành công".
    • Bổ sung quy định về định mức chi phí thực tế, hợp lý hỗ trợ việc chăm sóc y tế và dinh dưỡng cho người mang thai hộ để tránh biến tướng thương mại hóa.
    • Sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014: bổ sung chế độ thai sản cho người chồng của bên nhờ mang thai hộ; sửa đổi quy định chế độ tử tuất bảo đảm quyền lợi cho trẻ sinh ra khi cha mẹ chết trước thời điểm sinh.
    • Hoàn thiện chế tài: cụ thể hóa cấu thành Tội mang thai hộ vì mục đích thương mại tại Điều 187 BLHS năm 2015 và ban hành nghị định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi trốn tránh giao nhận con, vi phạm hợp đồng mang thai hộ.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Tăng cường thanh tra, kiểm tra các cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm; đẩy mạnh hoạt động tư vấn pháp lý, tâm lý bắt buộc cho các bên trước khi tiến hành; nâng cao nhận thức xã hội về tính nhân đạo của mang thai hộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống đầu tiên về chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam ở cấp độ luận án tiến sĩ.
  2. Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống khái niệm khoa học, xác định rõ bản chất pháp lý của mang thai hộ và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; định vị chế định mang thai hộ như một phân hệ quy phạm đặc thù trong ngành luật Hôn nhân và Gia đình và Luật Dân sự.
  3. Luận giải sâu sắc các yếu tố tác động (truyền thống, đạo đức, kinh tế, quyền con người) và phân loại một cách khoa học các quan điểm lập pháp quốc tế, cung cấp cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện chính sách dân số và pháp luật gia đình tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp

  1. Luận án đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị định số 10/2015/NĐ-CP trong giai đoạn 2015 - 2019, nhận diện chính xác các xung đột pháp lý và nguyên nhân của những tồn tại (rào cản thân thích, nguy cơ thương mại hóa ngầm, khoảng trống an sinh xã hội).
  2. Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ, cụ thể hóa thành các kiến nghị sửa đổi điều luật trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và Bộ luật Hình sự năm 2015.
  3. Cung cấp các luận cứ khoa học giúp các cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở y tế và cơ quan tài phán giải quyết các tranh chấp nhân thân, giao nhận con và xử lý các hành vi mang thai hộ trái pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Do yêu cầu về tính phù hợp với mã ngành và dung lượng nghiên cứu, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các quan hệ mang thai hộ trong nước, chưa đi sâu giải quyết các quan hệ mang thai hộ có yếu tố nước ngoài (xung đột pháp luật, tư pháp quốc tế).
  • Dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê y tế được khảo sát tập trung chủ yếu trong giai đoạn đầu thi hành luật (2015 - 2019).
  • Luận án tập trung sâu vào pháp luật nội dung; các khía cạnh pháp luật hình thức và thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp tại Tòa án chưa được nghiên cứu thành chương độc lập.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu chế định mang thai hộ có yếu tố nước ngoài, giải quyết các vấn đề về công nhận tư cách cha mẹ xuyên quốc gia, quốc tịch của trẻ em sinh ra từ các hợp đồng mang thai hộ quốc tế và phòng chống mua bán người qua biên giới.
  • Nghiên cứu cơ chế tài phán và thủ tục tố tụng dân sự đặc thù trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng mang thai hộ, quyền nuôi dưỡng và bồi thường thiệt hại y khoa.
  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động kinh tế - xã hội của các đề xuất mở rộng chủ thể nhờ mang thai hộ (như người độc thân, nhóm LGBTI) khi các đạo luật chuyên ngành (như Luật Chuyển đổi giới tính) được ban hành.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và các phương án sửa đổi, bổ sung điều luật cho Bộ Tư pháp, Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội khi rà soát Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn y tế.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng và Tòa án nhân dân: Là tài liệu tham khảo cho thẩm phán, kiểm sát viên trong việc áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp xác định cha, mẹ, con và xử lý các vụ án mang thai hộ vì mục đích thương mại.
  • Cơ sở y tế và đội ngũ y bác sĩ hỗ trợ sinh sản: Hỗ trợ việc xây dựng quy trình tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính pháp lý và phòng ngừa rủi ro tranh chấp trong quá trình thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm mang thai hộ.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập chuyên đề Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Quyền con người tại các trường đại học đào tạo luật và viện nghiên cứu khoa học pháp lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại như thế nào?

Theo luận án, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện mang thai cho cặp vợ chồng vô sinh bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (phôi hình thành từ noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng), không nhận bất kỳ khoản thù lao mang tính chất kinh doanh hay trục lợi nào ngoài các chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe hợp lý. Ngược lại, mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc mang thai để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác, biến cơ thể người phụ nữ và đứa trẻ thành đối tượng mua bán dịch vụ, bị Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 187) nghiêm cấm và xử lý hình sự.

2. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định những điều kiện nào đối với bên mang thai hộ?

Theo phân tích của luận án tại Chương 3 (căn cứ Luật HN&GĐ năm 2014 và Nghị định số 10/2015/NĐ-CP), người mang thai hộ phải đáp ứng các điều kiện:

  • Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ (chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; chị, em con chú, bác, cô, dì, cậu).
  • Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần.
  • Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai.
  • Nếu đã có chồng, phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng.
  • Đã được tư vấn về y tế, pháp lý và tâm lý.

3. Trẻ sinh ra từ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được xác định quan hệ cha mẹ con như thế nào?

Luận án khẳng định pháp luật Việt Nam áp dụng nguyên tắc quan hệ huyết thống di truyền kết hợp với ý chí ban đầu: Đứa trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng bên nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm thụ thai. Bên mang thai hộ không có bất kỳ quyền và nghĩa vụ nhân thân nào của cha mẹ đối với đứa trẻ sau khi sinh và phải có nghĩa vụ giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ theo đúng thỏa thuận.

4. Luận án đề xuất những giải pháp gì liên quan đến chế độ thai sản và bảo hiểm xã hội?

Tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 nhằm:

  • Quy định rõ người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản từ khi mang thai đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.
  • Bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 cho phép người chồng của bên nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ nghỉ việc khi vợ nhờ mang thai hộ sinh con.
  • Sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 67 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 về chế độ tử tuất, bảo đảm quyền lợi cho đứa trẻ được sinh ra trong trường hợp cả cha và mẹ nhờ mang thai hộ đều chết trước thời điểm đứa trẻ chào đời.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Lê Huyền là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về chế định mang thai hộ dưới góc độ Luật Dân sự và Hôn nhân gia đình. Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, tổng kết sâu sắc thực trạng áp dụng pháp luật giai đoạn 2015 - 2019, đồng thời chỉ ra những điểm nghẽn giữa quy định pháp lý và nhu cầu thực tiễn của xã hội. Hệ thống các quan điểm, phương hướng và kiến nghị lập pháp được xây dựng trong luận án có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào tiến trình hoàn thiện khung pháp lý về quyền sinh sản và hôn nhân gia đình tại Việt Nam.