Chương 1: Lý luận chung về mang thai hộ và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Chƣơng này tập trung làm rõ sự hình thành và phát triển của vấn đề mang thai hộ, phân tích khái niệm mang thai hộ, cơ sở pháp lý và đƣa ra ý nghĩa của việc cho phép mang thai hộ đồng thời phân tích mức độ cho phép mang thai hộ ở một số quốc gia trên thế giới. Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Chƣơng này là phần trọng tâm của đề tài. Tác giả tập trung phân tích các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về vấn đề mang thai hộ.
Thực trạng áp dụng pháp luật việt nam về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và kiến nghị hoàn thiện Chƣơng này đƣa ra thực trạng của tình trạng mang thai hộ, thực tiễn áp dụng pháp luật và đƣa ra kiến nghị. 11 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MANG THAI HỘ VÀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO 1. Sự hình thành và phát triển của vấn đề mang thai hộ Mang thai hộ trở thành một hiện tƣợng của thế giới vào thập niên 70 của thế kỷ XX. Tuy nhiên theo nhiều nguồn thông tin, việc mang thai hộ và đẻ con cho ngƣời khác đã xuất hiện từ rất lâu.
Theo tờ Newsweek, mô hình thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) mới xuất hiện từ những năm 1970 nhƣng ý tƣởng về việc một phụ nữ mang bầu cho một ngƣời mẹ khác đã là chuyện rất xƣa. Mang bầu và đẻ thay ngƣời khác đã đƣợc nêu trong Bộ luật Hammurabi (bộ luật cổ xƣa nhất thế giới, ra đời dƣới thời vua thứ 6 của Vƣơng quốc Babylon là Hammurabi, thời gian từ 1792- 1750 TCN) và xuất hiện một vài lần trong Kinh thánh của đạo Do Thái (Hebrew Bible).[23] Trong giai đoạn đầu của sự hình thành và phát triển, mang thai hộ đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Cách nhìn nhận đơn giản nhất, mang thai hộ là việc một ngƣời phụ nữ mang thai và sinh con cho một cặp vợ chồng mà ngƣời vợ không thể mang thai và đẻ con, dù tự nguyện hay bị ép buộc và sau đó giao lại con cho cặp vợ chồng ấy. Chính vì khái niệm đó nên khái niệm về mang thai hộ gần tƣơng đồng với khái niệm “đẻ mƣớn”, “đẻ giúp”.
Ngƣời ta chỉ quan tâm đến yếu tố có sự thay thế của một ngƣời phụ nữ khác (thƣờng đƣợc gọi là ngƣời mẹ thay thế - the surrogate mother) trong quá trình tạo ra đứa bé. Trong giai đoạn này, đứa bé sinh ra mang gen di truyền của ngƣời cha sinh học (the biological father) và ngƣời mẹ thay thế (the surrogate mother) mà không mang gen của ngƣời mẹ sinh học (the biological mother). Bởi vì việc mang thai hộ lúc này đƣợc thực hiện bằng cách ngƣời vợ không thể mang thai đồng ý để ngƣời chồng quan hệ trực tiếp với ngƣời phụ nữ mang thai hộ. Việc mang thai hộ theo cách này chứa đựng nhiều rủi ro.
Mặc dù đem lại cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ một đứa con nhƣ mong muốn của họ nhƣng lại tiềm ẩn nguy cơ hạnh phúc gia đình của 12 họ bị tan vỡ bởi quan hệ tình cảm giữa ngƣời chồng và ngƣời phụ nữ mang thai hộ cũng nhƣ các nguy cơ khác… Về sau, khi khoa học và công nghệ tiến bộ, đặc biệt là bƣớc tiến mới trong lĩnh vực y học. Đầu tiên có thể kể đến phƣơng pháp thụ tinh trong ống nghiệm – IVF (In – vitro Fertilization) đƣợc phát triển bởi Robert Geofrey Edwards và đồng nghiệp Patrick Steptoe. Robert Geofrey Edwards là nhà y học ngƣời Anh và đƣợc coi là cha đẻ của phƣơng pháp này, ngƣời đã tạo ra một “cuộc cách mạng” trong việc hỗ trợ sinh sản trên thế giới. Và thành tựu đầu tiên khi ứng dụng phƣơng pháp này vào thực tế cuộc sống đó là giúp cho cặp vợ chồng Lesley và John Brown có một đứa con.
Louise Joy Brown (sinh ngày 25 tháng 7 năm 1978, ở Oldham, Greater Manchester, Anh) là em bé đầu tiên trên thế giới sinh ra nhờ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Louise Brown là con của Lesley và John Brown, hai vợ chồng đã cố gắng thụ thai trong chín năm, nhƣng không thành công bởi vì ống dẫn trứng Lesley của bị chặn. Bốn năm sau, em gái của cô là Natalie Brown, cũng đƣợc sinh ra nhờ thụ tinh ống nghiệm, trở thành em bé thứ bốn mƣơi trên thế giới sinh ra nhờ kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm và là ngƣời đầu tiên đƣợc thụ tinh trong ống nghiệm và sinh con tự nhiên vào năm 1999. Việc tìm ra phƣơng pháp sinh sản bằng thụ tinh trong ống nghiệm đã đánh dấu bƣớc ngoặt làm thay đổi cách thức thực hiện mang thai hộ.
Giờ đây, ngƣời cha sinh học không còn quan hệ trực tiếp với ngƣời mẹ thay thế mà ngƣời này sẽ cung cấp tinh trùng, ngƣời mẹ sinh học sẽ cung cấp noãn của mình hoặc noãn của ngƣời phụ nữ khác, thậm chí có thể là noãn của ngƣời mẹ thay thế. Sau đó, noãn và tinh trùng này đƣợc cấy trong môi trƣờng ống nghiệm để tạo thành phôi, phôi đƣợc cho vào tử cung của ngƣời mẹ thay thế. Ngƣời mẹ thay thế mang thai và đẻ con. Sau đó giao lại đứa bé cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ.
Nhƣ vậy, với sự phát triển của y học, mang thai hộ đƣợc biết đến với hai hình thức, đó là: mang thai hộ một phần (Partial surrogacy) hay mang thai hộ truyền 13 thống (Traditional surrogacy) và mang thai hộ hoàn toàn (Full surrogacy). Cả hai hình thức mang thai hộ này đều áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Mang thai hộ một phần đƣợc tiến hành bằng cách cấy tinh trùng của ngƣời cha sinh học với noãn của ngƣời mẹ thay thế để tạo thành phôi thai, phôi này cho vào tử cung của ngƣời mẹ thay thế. Năm 1979, một cặp vợ chồng mà ngƣời vợ không thể mang thai trong nhiều năm đã đến và tìm gặp bác sĩ Richard M.
Trải qua thời kỳ mang thai, ngƣời phụ nữ này sinh ra một em bé khỏe mạnh. Năm ngày sau, ngƣời phụ nữ mang thai hộ đã trình diện trƣớc Tòa án để chính thức chấm dứt những quyền liên quan đến việc làm mẹ của mình và trao lại con cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Đây là trƣờng hợp mang thai hộ một phần hợp pháp, đƣợc chuẩn bị kỹ lƣỡng đầu tiên trên thế giới và không có tranh chấp về vấn đề nuôi dƣỡng em bé sau khi sinh. Tuy nhiên 1 trƣờng hợp điển hình khác vì sự hạn chế về kỹ thuật những năm 1980, hai gia đình Stern và Whitehead tranh giành quyền nuôi bé gái ra đời nhờ phƣơng pháp mang thai hộ.
Baby M là tên viết tắt của In re Baby M, 537 A. 396, ca mang thai hộ ồn ào khiến New York trở thành một trong những nơi hiếm hoi cấm loại hình dịch vụ này vì những rắc rối liên quan đến quyền cha mẹ. Hai bên sau đó ký "hợp đồng mang thai hộ", trong đó ghi rõ Mary Beth sẽ đƣợc nhận 10.000 USD (tƣơng đƣơng 22.000 USD ngày nay) để thụ tinh với tinh trùng của Bill, mang thai rồi chuyển lại quyền làm mẹ cho Besty. Ngày 27/3/1986, Mary Beth hạ sinh một bé gái và đặt tên là Sara Elizabeth Whitehead.
Thế nhƣng chỉ sau 24 giờ chuyển giao con cho gia đình Sterns, Mary Beth đến đòi lại con trong tình trạng điên cuồng, quá khích. Cuối cùng, dù Tòa án Tối cao New Jersey cho phép gia đình Stern giữ bé gái, hợp đồng mang thai hộ bị kết luận là bất hợp pháp. Quyền cha mẹ của Mary Beth đƣợc khôi phục, cho phép cô đến thăm con. Tên em bé đƣợc đổi sang Melissa 14 Elizabeth Stern.
Năm 2004, ở tuổi trƣởng thành, Melissa Stern chấm dứt quyền cha mẹ của Mary Beth và hoàn toàn trở thành con của Betsy.[15] Trong vụ án này, việc mang thai hộ của Mary Beth Whitehead là trƣờng hợp mang thai hộ một phần nên về mặt sinh học, Mary Beth Whitehead vẫn là mẹ của Melissa Stern, không có Tòa án nào có thể tƣớc bỏ đi quyền làm mẹ của Mary Beth. Mọi chuyện bắt đầu thay đổi sau vụ án Baby M. Từ đó, loại hình mang thai hộ chuyển sang hƣớng khác – tức là ngƣời mang thai hộ hoàn toàn không có mối liên kết di truyền nào với đứa bé. Phôi thai sẽ đƣợc tạo ra trong phòng thí nghiệm, sử dụng trứng và tinh trùng của cha mẹ hay ngƣời hiến tặng và sau đó đƣa vào tử cung ngƣời mang thai hộ.
Trong thế giới hiện đại, hiện tƣợng đẻ thuê phát triển nhanh và mạnh hơn bao giờ hết. Các nƣớc Đông Âu hiện là trung tâm của dịch vụ đẻ thuê trên thế giới, thu hút rất nhiều khách hàng đến từ các nƣớc châu Âu. Theo các thống kê không chính thức, hiện có khoảng 20 trung tâm làm dịch vụ này ở Ukraine, 17 ở Cộng hòa Séc và khoảng 40 ở Ba Lan. Đặc biệt, tại thị trấn nhỏ Anand, bang Gujarat của Ấn Độ, một cơ sở đẻ thuê đầu tiên trên thế giới chính thức mở cửa, nơi hàng trăm phụ nữ Ấn Độ thất nghiệp sẽ có cơ hội kiếm tiền bằng cách đẻ con cho những cặp vợ chồng vô sinh từ các nƣớc.
Những ông bố bà mẹ tƣơng lai có thể gửi đến địa chỉ này tinh trùng của chồng hoặc tế bào trứng của vợ và đến nhận con vào thời gian đƣợc chỉ định. Ngƣời phụ nữ nhận đẻ thuê sẽ hƣởng gần 8.000 USD cho một ca, trong khi đó bên đặt hợp đồng sẽ phải thanh toán toàn bộ dịch vụ là 28. Nhiều phụ nữ Ấn Độ coi đẻ thuê là một cách kiếm tiền nhanh và lƣơng thiện. Khoản tiền kiếm đƣợc từ việc đẻ thuê tƣơng đối lớn, với khoản tiền đó, họ có thể mua nhà và khởi động một dự án kinh doanh nhỏ.
Dù sao, đây vẫn là lựa chọn tốt hơn nhiều so với chuyện hàng ngàn phụ nữ bị đẩy ra ngoài đƣờng làm nghề mại dâm và bị đối xử tàn bạo. 15 Ở Việt Nam, vô sinh hiếm muộn đang dần trẻ hóa và diễn biến phức tạp, gây nhiều khó khăn, áp lực lên quá trình hỗ trợ và điều trị, phản ánh hành trình gian nan trong trạng vô sinh ở Việt Nam. Thực trạng vô sinh ở Việt Nam đang đáng báo động.TS Lê Thị Quý, Viện trƣởng Viện Nghiên cứu Giới và Phát triển nói về việc sửa đổi Luật Hôn nhân & Gia đình: Trước hết, cần phải thấy rằng, mang thai hộ là một hiện tượng mới trong xã hội, xuất phát từ hoàn cảnh thực tế là có những gia đình bị vô sinh mà người ta tha thiết mong có con.