Khóa luận tốt nghiệp về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: Lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể cho

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

83
60
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MANG THAI HỘ VÀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO

1.1. Sự hình thành và phát triển của vấn đề mang thai hộ

1.2. Một số khái niệm

1.2.1. Khái niệm chung về mang thai hộ

1.2.2. Khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1.2.3. Ý nghĩa của chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1.3. Mang thai hộ một số nước trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO

2.1. Nguyên tắc áp dụng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

2.2. Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

2.2.1. Điều kiện đối với vợ chồng nhờ mang thai hộ

2.2.2. Điều kiện đối với người được nhờ mang thai hộ

2.3. Trình tự, thủ tục mang thai hộ

2.4. Quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ

2.4.1. Quyền và nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

2.4.2. Quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

2.5. Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

2.5.1. Nội dung thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

2.5.2. Hình thức thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

2.6. Xác định cha mẹ con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

3.1. Tổng quan tình hình mang thai hộ ở Việt Nam

3.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

3.3. Những bất cập của pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Khái niệm và ý nghĩa

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một chủ đề đang thu hút sự quan tâm của xã hội và pháp luật. Khái niệm này không chỉ đơn thuần là việc một người phụ nữ mang thai và sinh con cho một cặp vợ chồng không thể sinh con, mà còn liên quan đến nhiều khía cạnh pháp lý, đạo đức và xã hội. Việc hiểu rõ về mang thai hộ giúp nâng cao nhận thức và tạo ra khung pháp lý phù hợp để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

1.1. Khái niệm mang thai hộ và nhân đạo

Mang thai hộ được định nghĩa là việc một người phụ nữ mang thai và sinh con cho một cặp vợ chồng không thể sinh con. Điều này không chỉ mang lại cơ hội cho các cặp vợ chồng vô sinh mà còn thể hiện tinh thần nhân đạo trong xã hội.

1.2. Ý nghĩa của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không chỉ giúp các cặp vợ chồng vô sinh có cơ hội làm cha mẹ mà còn góp phần giảm thiểu tình trạng trẻ em mồ côi, tạo ra một môi trường gia đình ổn định và hạnh phúc.

II. Những thách thức trong việc áp dụng pháp luật về mang thai hộ

Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, nhưng việc áp dụng vào thực tiễn vẫn gặp nhiều khó khăn. Các quy định chưa rõ ràng, thiếu hướng dẫn cụ thể, và nhiều cặp vợ chồng vẫn phải đối mặt với những rào cản pháp lý.

2.1. Khó khăn trong quy định pháp luật hiện hành

Các quy định về điều kiện mang thai hộ còn thiếu rõ ràng, dẫn đến việc nhiều cặp vợ chồng không thể thực hiện quyền lợi của mình. Điều này gây ra sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận dịch vụ mang thai hộ.

2.2. Vấn đề đạo đức và xã hội liên quan đến mang thai hộ

Mang thai hộ không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề đạo đức. Nhiều người vẫn còn e ngại về việc thương mại hóa cơ thể phụ nữ và những hệ lụy xã hội có thể xảy ra.

III. Phương pháp và quy trình mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Để thực hiện mang thai hộ, cần tuân thủ một quy trình pháp lý rõ ràng. Điều này bao gồm việc xác định các bên liên quan, ký kết thỏa thuận và thực hiện các thủ tục y tế cần thiết. Việc này không chỉ đảm bảo quyền lợi cho các bên mà còn bảo vệ sức khỏe của người mang thai hộ.

3.1. Quy trình pháp lý trong mang thai hộ

Quy trình mang thai hộ bao gồm việc ký kết thỏa thuận giữa bên nhờ mang thai và bên mang thai hộ, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên.

3.2. Các điều kiện y tế cần thiết cho mang thai hộ

Người mang thai hộ cần đáp ứng các điều kiện y tế nhất định để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và con. Điều này bao gồm việc kiểm tra sức khỏe định kỳ và tuân thủ các chỉ định của bác sĩ.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về mang thai hộ

Việc áp dụng pháp luật về mang thai hộ đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho xã hội. Nhiều cặp vợ chồng đã có cơ hội làm cha mẹ, và các quy định pháp luật đã dần được hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn.

4.1. Tình hình thực tiễn mang thai hộ tại Việt Nam

Từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực, số lượng cặp vợ chồng thực hiện mang thai hộ đã tăng lên đáng kể, cho thấy nhu cầu và sự chấp nhận của xã hội đối với hình thức này.

4.2. Kết quả nghiên cứu về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Nghiên cứu cho thấy rằng mang thai hộ không chỉ giúp các cặp vợ chồng vô sinh mà còn tạo ra một môi trường gia đình ổn định, góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

V. Kết luận và tương lai của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết trong xã hội hiện đại. Việc hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao nhận thức xã hội sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và tạo ra cơ hội cho nhiều cặp vợ chồng.

5.1. Tương lai của mang thai hộ tại Việt Nam

Với sự phát triển của y học và sự thay đổi trong nhận thức xã hội, mang thai hộ sẽ ngày càng được chấp nhận và phát triển hơn trong tương lai.

5.2. Những khuyến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật

Cần có những quy định rõ ràng và cụ thể hơn về mang thai hộ để bảo vệ quyền lợi của các bên, đồng thời nâng cao nhận thức xã hội về vấn đề này.

11/01/2025
Khóa luận tốt nghiệp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận chung về mang thai hộ và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Chƣơng này tập trung làm rõ sự hình thành và phát triển của vấn đề mang thai hộ, phân tích khái niệm mang thai hộ, cơ sở pháp lý và đƣa ra ý nghĩa của việc cho phép mang thai hộ đồng thời phân tích mức độ cho phép mang thai hộ ở một số quốc gia trên thế giới. Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Chƣơng này là phần trọng tâm của đề tài. Tác giả tập trung phân tích các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về vấn đề mang thai hộ.

Thực trạng áp dụng pháp luật việt nam về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và kiến nghị hoàn thiện Chƣơng này đƣa ra thực trạng của tình trạng mang thai hộ, thực tiễn áp dụng pháp luật và đƣa ra kiến nghị. 11 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MANG THAI HỘ VÀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO 1. Sự hình thành và phát triển của vấn đề mang thai hộ Mang thai hộ trở thành một hiện tƣợng của thế giới vào thập niên 70 của thế kỷ XX. Tuy nhiên theo nhiều nguồn thông tin, việc mang thai hộ và đẻ con cho ngƣời khác đã xuất hiện từ rất lâu.

Theo tờ Newsweek, mô hình thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) mới xuất hiện từ những năm 1970 nhƣng ý tƣởng về việc một phụ nữ mang bầu cho một ngƣời mẹ khác đã là chuyện rất xƣa. Mang bầu và đẻ thay ngƣời khác đã đƣợc nêu trong Bộ luật Hammurabi (bộ luật cổ xƣa nhất thế giới, ra đời dƣới thời vua thứ 6 của Vƣơng quốc Babylon là Hammurabi, thời gian từ 1792- 1750 TCN) và xuất hiện một vài lần trong Kinh thánh của đạo Do Thái (Hebrew Bible).[23] Trong giai đoạn đầu của sự hình thành và phát triển, mang thai hộ đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Cách nhìn nhận đơn giản nhất, mang thai hộ là việc một ngƣời phụ nữ mang thai và sinh con cho một cặp vợ chồng mà ngƣời vợ không thể mang thai và đẻ con, dù tự nguyện hay bị ép buộc và sau đó giao lại con cho cặp vợ chồng ấy. Chính vì khái niệm đó nên khái niệm về mang thai hộ gần tƣơng đồng với khái niệm “đẻ mƣớn”, “đẻ giúp”.

Ngƣời ta chỉ quan tâm đến yếu tố có sự thay thế của một ngƣời phụ nữ khác (thƣờng đƣợc gọi là ngƣời mẹ thay thế - the surrogate mother) trong quá trình tạo ra đứa bé. Trong giai đoạn này, đứa bé sinh ra mang gen di truyền của ngƣời cha sinh học (the biological father) và ngƣời mẹ thay thế (the surrogate mother) mà không mang gen của ngƣời mẹ sinh học (the biological mother). Bởi vì việc mang thai hộ lúc này đƣợc thực hiện bằng cách ngƣời vợ không thể mang thai đồng ý để ngƣời chồng quan hệ trực tiếp với ngƣời phụ nữ mang thai hộ. Việc mang thai hộ theo cách này chứa đựng nhiều rủi ro.

Mặc dù đem lại cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ một đứa con nhƣ mong muốn của họ nhƣng lại tiềm ẩn nguy cơ hạnh phúc gia đình của 12 họ bị tan vỡ bởi quan hệ tình cảm giữa ngƣời chồng và ngƣời phụ nữ mang thai hộ cũng nhƣ các nguy cơ khác… Về sau, khi khoa học và công nghệ tiến bộ, đặc biệt là bƣớc tiến mới trong lĩnh vực y học. Đầu tiên có thể kể đến phƣơng pháp thụ tinh trong ống nghiệm – IVF (In – vitro Fertilization) đƣợc phát triển bởi Robert Geofrey Edwards và đồng nghiệp Patrick Steptoe. Robert Geofrey Edwards là nhà y học ngƣời Anh và đƣợc coi là cha đẻ của phƣơng pháp này, ngƣời đã tạo ra một “cuộc cách mạng” trong việc hỗ trợ sinh sản trên thế giới. Và thành tựu đầu tiên khi ứng dụng phƣơng pháp này vào thực tế cuộc sống đó là giúp cho cặp vợ chồng Lesley và John Brown có một đứa con.

Louise Joy Brown (sinh ngày 25 tháng 7 năm 1978, ở Oldham, Greater Manchester, Anh) là em bé đầu tiên trên thế giới sinh ra nhờ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Louise Brown là con của Lesley và John Brown, hai vợ chồng đã cố gắng thụ thai trong chín năm, nhƣng không thành công bởi vì ống dẫn trứng Lesley của bị chặn. Bốn năm sau, em gái của cô là Natalie Brown, cũng đƣợc sinh ra nhờ thụ tinh ống nghiệm, trở thành em bé thứ bốn mƣơi trên thế giới sinh ra nhờ kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm và là ngƣời đầu tiên đƣợc thụ tinh trong ống nghiệm và sinh con tự nhiên vào năm 1999. Việc tìm ra phƣơng pháp sinh sản bằng thụ tinh trong ống nghiệm đã đánh dấu bƣớc ngoặt làm thay đổi cách thức thực hiện mang thai hộ.

Giờ đây, ngƣời cha sinh học không còn quan hệ trực tiếp với ngƣời mẹ thay thế mà ngƣời này sẽ cung cấp tinh trùng, ngƣời mẹ sinh học sẽ cung cấp noãn của mình hoặc noãn của ngƣời phụ nữ khác, thậm chí có thể là noãn của ngƣời mẹ thay thế. Sau đó, noãn và tinh trùng này đƣợc cấy trong môi trƣờng ống nghiệm để tạo thành phôi, phôi đƣợc cho vào tử cung của ngƣời mẹ thay thế. Ngƣời mẹ thay thế mang thai và đẻ con. Sau đó giao lại đứa bé cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ.

Nhƣ vậy, với sự phát triển của y học, mang thai hộ đƣợc biết đến với hai hình thức, đó là: mang thai hộ một phần (Partial surrogacy) hay mang thai hộ truyền 13 thống (Traditional surrogacy) và mang thai hộ hoàn toàn (Full surrogacy). Cả hai hình thức mang thai hộ này đều áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Mang thai hộ một phần đƣợc tiến hành bằng cách cấy tinh trùng của ngƣời cha sinh học với noãn của ngƣời mẹ thay thế để tạo thành phôi thai, phôi này cho vào tử cung của ngƣời mẹ thay thế. Năm 1979, một cặp vợ chồng mà ngƣời vợ không thể mang thai trong nhiều năm đã đến và tìm gặp bác sĩ Richard M.

Trải qua thời kỳ mang thai, ngƣời phụ nữ này sinh ra một em bé khỏe mạnh. Năm ngày sau, ngƣời phụ nữ mang thai hộ đã trình diện trƣớc Tòa án để chính thức chấm dứt những quyền liên quan đến việc làm mẹ của mình và trao lại con cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Đây là trƣờng hợp mang thai hộ một phần hợp pháp, đƣợc chuẩn bị kỹ lƣỡng đầu tiên trên thế giới và không có tranh chấp về vấn đề nuôi dƣỡng em bé sau khi sinh. Tuy nhiên 1 trƣờng hợp điển hình khác vì sự hạn chế về kỹ thuật những năm 1980, hai gia đình Stern và Whitehead tranh giành quyền nuôi bé gái ra đời nhờ phƣơng pháp mang thai hộ.

Baby M là tên viết tắt của In re Baby M, 537 A. 396, ca mang thai hộ ồn ào khiến New York trở thành một trong những nơi hiếm hoi cấm loại hình dịch vụ này vì những rắc rối liên quan đến quyền cha mẹ. Hai bên sau đó ký "hợp đồng mang thai hộ", trong đó ghi rõ Mary Beth sẽ đƣợc nhận 10.000 USD (tƣơng đƣơng 22.000 USD ngày nay) để thụ tinh với tinh trùng của Bill, mang thai rồi chuyển lại quyền làm mẹ cho Besty. Ngày 27/3/1986, Mary Beth hạ sinh một bé gái và đặt tên là Sara Elizabeth Whitehead.

Thế nhƣng chỉ sau 24 giờ chuyển giao con cho gia đình Sterns, Mary Beth đến đòi lại con trong tình trạng điên cuồng, quá khích. Cuối cùng, dù Tòa án Tối cao New Jersey cho phép gia đình Stern giữ bé gái, hợp đồng mang thai hộ bị kết luận là bất hợp pháp. Quyền cha mẹ của Mary Beth đƣợc khôi phục, cho phép cô đến thăm con. Tên em bé đƣợc đổi sang Melissa 14 Elizabeth Stern.

Năm 2004, ở tuổi trƣởng thành, Melissa Stern chấm dứt quyền cha mẹ của Mary Beth và hoàn toàn trở thành con của Betsy.[15] Trong vụ án này, việc mang thai hộ của Mary Beth Whitehead là trƣờng hợp mang thai hộ một phần nên về mặt sinh học, Mary Beth Whitehead vẫn là mẹ của Melissa Stern, không có Tòa án nào có thể tƣớc bỏ đi quyền làm mẹ của Mary Beth. Mọi chuyện bắt đầu thay đổi sau vụ án Baby M. Từ đó, loại hình mang thai hộ chuyển sang hƣớng khác – tức là ngƣời mang thai hộ hoàn toàn không có mối liên kết di truyền nào với đứa bé. Phôi thai sẽ đƣợc tạo ra trong phòng thí nghiệm, sử dụng trứng và tinh trùng của cha mẹ hay ngƣời hiến tặng và sau đó đƣa vào tử cung ngƣời mang thai hộ.

Trong thế giới hiện đại, hiện tƣợng đẻ thuê phát triển nhanh và mạnh hơn bao giờ hết. Các nƣớc Đông Âu hiện là trung tâm của dịch vụ đẻ thuê trên thế giới, thu hút rất nhiều khách hàng đến từ các nƣớc châu Âu. Theo các thống kê không chính thức, hiện có khoảng 20 trung tâm làm dịch vụ này ở Ukraine, 17 ở Cộng hòa Séc và khoảng 40 ở Ba Lan. Đặc biệt, tại thị trấn nhỏ Anand, bang Gujarat của Ấn Độ, một cơ sở đẻ thuê đầu tiên trên thế giới chính thức mở cửa, nơi hàng trăm phụ nữ Ấn Độ thất nghiệp sẽ có cơ hội kiếm tiền bằng cách đẻ con cho những cặp vợ chồng vô sinh từ các nƣớc.

Những ông bố bà mẹ tƣơng lai có thể gửi đến địa chỉ này tinh trùng của chồng hoặc tế bào trứng của vợ và đến nhận con vào thời gian đƣợc chỉ định. Ngƣời phụ nữ nhận đẻ thuê sẽ hƣởng gần 8.000 USD cho một ca, trong khi đó bên đặt hợp đồng sẽ phải thanh toán toàn bộ dịch vụ là 28. Nhiều phụ nữ Ấn Độ coi đẻ thuê là một cách kiếm tiền nhanh và lƣơng thiện. Khoản tiền kiếm đƣợc từ việc đẻ thuê tƣơng đối lớn, với khoản tiền đó, họ có thể mua nhà và khởi động một dự án kinh doanh nhỏ.

Dù sao, đây vẫn là lựa chọn tốt hơn nhiều so với chuyện hàng ngàn phụ nữ bị đẩy ra ngoài đƣờng làm nghề mại dâm và bị đối xử tàn bạo. 15 Ở Việt Nam, vô sinh hiếm muộn đang dần trẻ hóa và diễn biến phức tạp, gây nhiều khó khăn, áp lực lên quá trình hỗ trợ và điều trị, phản ánh hành trình gian nan trong trạng vô sinh ở Việt Nam. Thực trạng vô sinh ở Việt Nam đang đáng báo động.TS Lê Thị Quý, Viện trƣởng Viện Nghiên cứu Giới và Phát triển nói về việc sửa đổi Luật Hôn nhân & Gia đình: Trước hết, cần phải thấy rằng, mang thai hộ là một hiện tượng mới trong xã hội, xuất phát từ hoàn cảnh thực tế là có những gia đình bị vô sinh mà người ta tha thiết mong có con.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài khóa luận tốt nghiệp mang tiêu đề "Khóa luận tốt nghiệp về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: Lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật" của tác giả Ngô Thị Diệu Linh, dưới sự hướng dẫn của TS. Ngô Thanh Hương, được thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2020. Bài viết khám phá các khía cạnh lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đồng thời phân tích cách mà pháp luật hiện hành áp dụng trong lĩnh vực này. Nội dung của khóa luận không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về khái niệm mang thai hộ mà còn nêu bật những thách thức và cơ hội trong việc áp dụng pháp luật, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề này trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Để mở rộng hiểu biết về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận văn thạc sĩ về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình", nơi phân tích về cách thức giải quyết khiếu nại trong một lĩnh vực pháp lý cụ thể. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ về hợp đồng mua bán hàng hóa trực tuyến ở Việt Nam" cũng có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh pháp lý trong giao dịch thương mại hiện đại, tương tự như những vấn đề được đề cập trong khóa luận về mang thai hộ. Cuối cùng, bài viết "Luận Văn Thạc Sĩ Về Pháp Luật Bảo Hiểm Y Tế Tại Huyện Phúc Thọ, Hà Nội" sẽ giúp bạn khám phá thêm về các khía cạnh pháp lý liên quan đến sức khỏe và bảo hiểm, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến vấn đề nhân đạo trong mang thai hộ.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn về pháp luật mà còn giúp bạn hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong các lĩnh vực khác nhau của hệ thống pháp luật Việt Nam.