Chương 1: Một số vấn dé lý luận pháp luật về hoạt động từ thiện và quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động từ thiện. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về hoạt động từ thiện ở Việt Nam. Chương 3: Phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động từ thiện. 12 CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN PHAP LUAT VE HOẠT DONG TU THIEN VA QUY DINH CUA PHAP LUAT HIEN HANH VE HOAT DONG TU THIEN.
Một số van đề lý luận pháp luật về hoạt động từ thiện 1. Khái niệm pháp luật về hoạt động từ thiện Về mặt từ ngữ, “Từ thiện” là một từ Hán Việt (#42) được ghép bởi 2 từ: "Từ" và "Thiện". Theo đó, "Từ" nghĩa là thương yêu (mọi người), "Thiện" nghĩa là tốt lành, là hiền lành, không làm điều gi trái với đạo đức và pháp luật. Như vậy, "từ thiện" có nghĩa là làm việc tốt xuất phát lòng yêu thương (người), nó có thể là những việc giúp đỡ những người yếu kém, thiếu may mắn.
Tuy nhiên, theo quan điểm phổ biến của xã hội, từ thiện là những hành động giúp đỡ người khác, nhưng không phải mọi hành động giúp đỡ đều được coi là từ thiện. Tính từ thiện thường đi kèm với sự không vụ lợi (hành động không vì lợi ích cá nhân) và tinh thần tự nguyện (tự nguyện làm việc vì mục tiêu tốt lành). Pháp luật hoạt động từ thiện được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm: Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Bộ Luật Dân sự năm 2015; Nghị định 93/2021/NĐ-CP của Chính phủ về Vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo; các văn bản khác có liên quan; Thông tư số 41/2022/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán áp dụng cho các hoạt động xã hội. Cho đến nay, pháp luật Việt nam chưa có định nghĩa chính thức nào về hoạt động từ thiện.
Tuy nhiên, hoạt động này được điều chỉnh trực tiếp bởi Nghị định 93/2021/NĐ-CP. Do đó, hoạt động từ thiện có thể được hiểu là các hành động nhân đạo không vì mục đích lợi nhuận, bao gồm việc tập hợp, tiếp nhận, phân phối Và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, nhằm hỗ trợ giải quyết khó khăn do thiên tai, dịch bệnh hoặc sự cố, cũng như hỗ trợ 13 cho bệnh nhân mắc các bệnh hiểm nghèo. Từ việc phân tích phía phân, ta có thể đưa ra khái niệm về pháp luật về hoạt động từ thiện như sau: “Pháp luật về hoạt động từ thiện là tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh hoạt động từ thiện mang mục đích nhân đạo của các 16 chức và cá nhân trong xã hội, bao gồm: Tổ chức vận động, tiếp nhận, phân phối, sử dung và quản lý sử dụng nguon đóng góp tự nguyện, các chế tài xử phạt về hành vi vi phạm pháp luật về từ thiện. Đặc điểm của pháp luật về hoạt động từ thiện ở Việt Nam Pháp luật về từ thiện ở Việt Nam là tập hợp các quy định pháp luật nhà nước ban hành để điều chỉnh các hoạt động từ thiện của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hoặc nhà nước trên lãnh thể Việt Nam.
Pháp luật về từ thiện ở Việt Nam có một sô đặc diém sau: Thứ nhất, pháp luật về từ thiện ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở thừa nhận và tôn trọng truyền thống tương thân tương ái, lá lành dim lá rách, giúp đỡ đồng bào trong lúc khó khăn hoạ nạn của dân tộc Việt Nam. Pháp luật về từ thiện ở Việt Nam cũng phản ánh sự quan tâm và chịu trách nhiệm của nhà nước đối với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong hoạt động từ thiện. Truyén thống tương thân tương ái, lá lành dim lá rách, giúp đỡ đồng bao trong lúc khó khăn hoạn nạn của dân tộc Việt Nam là một giá trị đạo đức cao quý, được hình thành và nuôi dưỡng qua hàng ngàn năm lịch sử. Người Việt có câu “Một cây làm chang nên non, ba cây chum lại nên hòn núi cao”, “Lá lành dim lá rách”, “Ai ốm ai đau ai lo”, “Một miếng khi đói bằng một gói khi no” dé thể hiện tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh.
Trong những thời kỳ khó khăn, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, người Việt luôn biết san sẻ, hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp giải phỏng dân tộc và xây dung đất nước. Những hoạt động từ thiện như quyên góp, hỗ trợ, cứu trợ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục. đã được người Việt thực hiện từ rất lâu đời và trở thành một phần không thê thiếu trong văn hóa dân gian. 14 Thứ hai, pháp luật về từ thiện ở Việt Nam không chỉ quy định các quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức tham gia vào các hoạt động từ thiện mà còn khuyến khích, hỗ trợ và ghi nhận công lao của họ.
Pháp luật về từ thiện ở Việt Nam cũng bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của người cho và người nhận từ thiện bằng cách đảm bảo minh bạch, công khai, trung thực và hiệu quả. Pháp luật về từ thiện ở Việt Nam cũng có vai trò giáo dục lòng nhân ái, ý thức công dân và trách nhiệm xã hội cho người dân. Thứ ba, pháp luật về từ thiện ở Việt Nam cũng phản ánh sự quan tâm và chịu trách nhiệm của nhà nước đối với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong hoạt động từ thiện. Nhà nước Việt Nam không chỉ là một đối tượng tham gia vào các hoạt động từ thiện bằng cách tài trợ, đặt hàng, hợp tác với các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước mà còn là một đối tượng quản lý, điều hành, giám sát các hoạt động từ thiện.
Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật dé quy định các nguyên tắc, quy trình, thủ tục, trách nhiệm liên quan đến việc thành lập, tổ chức và hoạt động của các tổ chức từ thiện, cũng như việc kiểm tra, thanh tra, xử ly vi phạm và xử lý khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực từ thiện. Trong đó, nghị định 93/2021/NĐ-CP là văn bản pháp luật quan trọng nhất, là cơ sở pháp lý dé thúc đây và phát triển các hoạt động từ thiện ở Việt Nam. Pháp luật về từ thiện ở Việt Nam được hình thành và phát triển theo quá trình lịch sử, văn hóa và xã hội của đất nước. Pháp luật về từ thiện ở Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ giai đoạn chưa có quy định rõ ràng cho đến giai đoạn có quy định cụ thể và chi tiết.
Hiện nay, pháp luật về từ thiện ở Việt Nam bao gồm các quy định của Hiến pháp, Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản khác liên quan. Giai đoạn chưa có quy định rõ ràng: Trước khi có pháp luật về từ thiện ở Việt Nam, các hoạt động từ thiện được thực hiện chủ yếu dựa vào truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách của dân tộc. Các hoạt động từ thiện được tổ chức theo hình thức hội, phường, làng xóm, gia đình hoặc cá nhân. Các hoạt động từ thiện không có sự quản lý, giám sát của nhà nước mà phụ thuộc vào ý thức và 15 trách nhiệm của người cho và người nhận.
Các hoạt động từ thiện cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực, kinh nghiệm và minh bạch. Giai đoạn có quy định cụ thé và chi tiết: sau khi gianh được độc lập, nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để quy định các nguyên tắc, quy trình, thủ tục, trách nhiệm liên quan đến việc thành lập, tổ chức và hoạt động của các tổ chức từ thiện, cũng như việc kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và xử lý khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực từ thiện. Trong số các văn bản pháp luật này, có thể kể đến một số văn bản quan trọng như: Hiến pháp 1946 (điều 14), Hiến pháp 1959 (điều 20), Hiến pháp 1980 (điều 24), Hiến pháp 1992 (điều 35), Hiến pháp 2013 (điều 50) đã khang định vai trò của các tô chức xã hội trong việc giúp nhà nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Nghị quyết số 15/NQ-CP ngày 26/6/2012 của Chính phủ về việc ban hành dé án “Phát triển công tác từ thiện trong giai đoạn 2012-2020” đã chỉ ra mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp dé thúc đây và phát triển các hoạt động từ thiện; Nghị định 93/2021/NĐ-CPcủa Chính Phủ là văn bản pháp luật cao nhất trong lĩnh vực từ thiện, là cơ sở pháp lý dé điều chỉnh các hoạt động từ thiện của các cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước nhằm hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, sự cố và các hoạt động từ thiện trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Hiện nay, pháp luật về từ thiện ở Việt Nam bao gồm Hiến pháp.
Bộ luật, Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản khác liên quan. Các văn bản pháp luật này được hình thành và phát triển theo quá trình lịch sử, văn hóa và xã hội của đất nước, phản ánh ý chí và lợi ích của nhân dân, nhà nước và các tổ chức xã hội. Các văn bản pháp luật này cũng được sửa đôi, bổ sung dé phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của xã hội. Thứ tư, pháp luật về từ thiện ở Việt Nam có tính chất toàn diện, bao quát và cập nhật.
Pháp luật về từ thiện ở Việt Nam không chỉ điều chỉnh các hoạt động từ thiện trong trường hợp khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, sự cố mà còn điều chỉnh các hoạt động từ thiện trong các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế, văn 16 hóa, thể thao, môi trường. Pháp luật về từ thiện ở Việt Nam cũng không ngừng được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của xã hội. Ví dụ: Các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực giáo dục: pháp luật về từ thiện ở Việt Nam đã quy định các nguyên tắc, quy trình, thủ tục và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức tham gia vào các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực giáo dục. Các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực giáo duc bao gồm: quyên gop, tài trợ, hỗ trợ cho việc xây dung, nâng cấp cơ sở vật chất giáo đục: quyên góp.