Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Nhâm có tiêu đề "Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam", được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Đăng Dung tại Khoa Luật (Đại học Thiên Hà Nội), thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật (Mã số: 62.01), hoàn thành năm 2024.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường tại Việt Nam đi kèm với những biến đổi tiêu cực về môi trường sinh thái: ô nhiễm đất, nước, không khí tại các đô thị và khu công nghiệp; cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học; suy thoái môi trường biển, ven bờ và các sự cố môi trường gia tăng (tiêu biểu như vụ xả thải của Công ty Vedan trên sông Thị Vải hay sự cố tràn dầu ven biển Vũng Tàu). Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều luật và văn bản dưới luật, tình trạng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường vẫn diễn biến phức tạp. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc hệ thống pháp luật còn bất cập, quy định chung chung, phân tán, chồng chéo giữa các lĩnh vực, thiếu vắng các chế tài đủ mạnh, và chưa làm rõ bản chất của một số loại trách nhiệm pháp lý (như trách nhiệm khắc phục tình trạng ô nhiễm là dân sự hay hành chính). Về mặt học thuật, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận môi trường dưới góc độ quản lý kinh tế hoặc nghiên cứu từng dạng trách nhiệm riêng lẻ (hình sự, dân sự, hành chính) mà chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể, toàn diện về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực này là yêu cầu cấp thiết.

  • Mục tiêu nghiên cứu: Luận án xác định mục đích đi sâu nghiên cứu pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường hiện nay; làm rõ mối liên hệ giữa pháp luật về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự; phân tích thực trạng các quy định pháp luật và nghiên cứu vụ vi phạm cụ thể (vụ án Công ty Vedan) để chỉ ra những hạn chế, bất cập; khảo sát kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói riêng ở Việt Nam.

  • Đối tượng nghiên cứu: Nội dung cơ bản về vấn đề môi trường và pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (bao gồm trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự).

  • Phạm vi nghiên cứu:

    • Không gian: Thực trạng môi trường và hệ thống pháp luật tại Việt Nam, có nghiên cứu so sánh đối chiếu với kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới (như Singapore, Australia, Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức).
    • Thời gian: Tập trung vào giai đoạn từ khi ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đến các văn bản pháp luật, số liệu thanh tra, báo cáo môi trường quốc gia giai đoạn 2003–2010 và các văn bản cập nhật đến thời điểm hoàn thành công trình.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa các nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba mảng chính:

  1. Các nghiên cứu về vấn đề bảo vệ môi trường dưới góc độ kinh tế và quản lý:

    • GS.VS. Phạm Minh Hạc và GS. Nguyễn Hữu Tăng (chủ biên, 2001), Tiến tới kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia: Nghiên cứu mô hình cơ quan quản lý nhà nước trong nước và quốc tế để đề xuất mô hình tổ chức bộ máy.
    • PGS.TS. Nguyễn Đức Khiển (2002), Quản lý môi trường, NXB Lao động - Xã hội.
    • Cục Bảo vệ môi trường và Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2003), Những nội dung cấm vi phạm theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, NXB Thanh niên: Tổng hợp hệ thống điều cấm đối với các hành vi tác động vào môi trường.
    • Nguyễn Văn Gừng (2004), Một số vấn đề bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia.
    • Cục Bảo vệ Môi trường (2004), Tuyển tập các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, NXB Thanh niên.
    • Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2005), Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân về bảo vệ môi trường, NXB Tư pháp.
    • TS. Phạm Văn Lợi (chủ biên) và PGS.TS. Nguyễn Văn Động (2005), Kiểm tra của cơ quan hành chính nhà nước đối với việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay, NXB Tư pháp.
    • ThS. Bùi Văn Quyết (2008), Kinh tế môi trường, NXB Tài chính.
    • Các Báo cáo Môi trường Quốc gia hàng năm từ năm 2005 đến năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (về đa dạng sinh học năm 2005, lưu vực sông năm 2006, không khí đô thị năm 2007, làng nghề năm 2008, khu công nghiệp năm 2009 và báo cáo tổng hợp giai đoạn 2006–2010).
  2. Các nghiên cứu lý luận về trách nhiệm pháp lý nói chung:

    • Nước ngoài: Công trình Cơ sở pháp lý của trách nhiệm trong quản lý ở Liên Xô và Cộng hòa Dân chủ Đức (Matxcova, 1986); Batrilo I.L. (1977), bài viết Chế định trách nhiệm trong quản lý, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Liên Xô; Malein H.C. (1985), sách Vi phạm pháp luật: khái niệm, nguyên nhân, trách nhiệm; công trình Trách nhiệm về tài sản của các chủ thể quản lý trong sách Trách nhiệm quản lý (Matxcova, 1985).
    • Trong nước: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; GS.TS. Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu (1995), Giải đáp pháp luật – Luật hành chính Việt Nam; Hoàng Thị Ngân (2000), bài viết Trách nhiệm pháp lý, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp; GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế (2000), Một số suy nghĩ về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật; Bùi Ngọc Sơn (2003), Trách nhiệm Hiến pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp.
  3. Các nghiên cứu về từng loại trách nhiệm pháp lý chuyên ngành trong bảo vệ môi trường:

    • Về trách nhiệm hình sự: GS.TSKH. Đào Trí Úc và GS.TS. Võ Khánh Vinh với công trình Chính sách hình sự đối với các tội phạm môi trường; GS.TS. Võ Khánh Vinh với bài viết Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm môi trường theo pháp luật hiện hành; Trần Lê Hồng (2002), Nhận thức chung về tội phạm môi trường và một số vấn đề liên quan, Tạp chí Khoa học Pháp lý; PGS.TS. Phạm Hồng Hải (2001), Vấn đề tội phạm hoá một số hành vi xâm hại tới môi trường trong Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật; Phạm Văn Lợi (2004), Tội phạm môi trường một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia; Nguyễn Thị Tố Uyên (2010), Một số vấn đề về tội phạm môi trường ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; Luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Dương Thanh An (2011), Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi trường (GS. Đào Trí Úc hướng dẫn).
    • Về trách nhiệm dân sự: Đề tài của Cục Môi trường (2000), Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường; TS. Phạm Hữu Nghị (2002), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN và bài viết năm 2006 trên Tạp chí Bảo vệ Môi trường; Đinh Mai Phương (2003), Trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp; Trần Thắng Lợi (2004), Trách nhiệm pháp lý về môi trường ở một số nước, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp; Nguyễn Xuân Anh (2005), bài viết trên Tạp chí Tòa án nhân dân; TS. Vũ Thu Hạnh và ThS. Trần Thị Thu Trang với nghiên cứu về tranh chấp môi trường ở Australia; TS. Vũ Thu Hạnh (2007), Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, Tạp chí Khoa học Pháp lý ĐH Luật TP.HCM; Nguyễn Thị Tố Uyên (2011), Trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; Đề tài nghiên cứu của Vụ Pháp chế - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008).
    • Về trách nhiệm hành chính: Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Việt (GS.TS. Phạm Hồng Thái hướng dẫn), Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay; Nguyễn Tố Uyên (2012), Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
  • Khoảng trống luận án giải quyết: Các công trình kể trên mới chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu từng nhánh trách nhiệm riêng biệt (hình sự, dân sự hoặc hành chính) hoặc xem xét dưới góc độ quản lý kinh tế. Luận án này định vị là công trình chuyên khảo nghiên cứu tương đối toàn diện, tích hợp cả ba dạng trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật, làm rõ mối quan hệ tương hỗ, phân định ranh giới và xác lập các tiêu chí, giải pháp hoàn thiện tổng thể.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận và các khái niệm sử dụng:

    • Nhận thức về môi trường: Luận án tổng kết 5 quan điểm lý thuyết về môi trường (môi trường là sinh thái tự nhiên; môi trường là tổng hợp điều kiện bên ngoài tác động đến sự sống; môi trường là tập hợp nhân tố vật lý, hóa học, sinh học, xã hội gắn với tính thời gian; quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về điều kiện sống tự nhiên - xã hội - kinh tế; và định nghĩa pháp lý theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005). Luận án lựa chọn định nghĩa theo Luật Bảo vệ môi trường 2005 làm nền tảng: môi trường gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.
    • Lý thuyết trách nhiệm pháp lý: Luận án phân tích khái niệm trách nhiệm theo hai nghĩa: "tích cực" (chức trách, nghĩa vụ, bổn phận hiện tại được pháp luật giao phó) và "tiêu cực" (hậu quả pháp lý bất lợi, sự phản ứng mang tính cưỡng chế/trừng phạt của Nhà nước áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật trong quá khứ). Luận án lựa chọn tập trung vào trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tiêu cực.
    • Khái niệm pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: Là hệ thống các quy tắc xử sự bắt buộc do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ pháp luật giữa Nhà nước (thông qua cơ quan có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, trong đó chủ thể vi phạm phải gánh chịu các biện pháp cưỡng chế, trừng phạt được quy định ở phần chế tài của quy phạm pháp luật.
  • Phương pháp nghiên cứu: Luận án dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

    • Phương pháp duy vật biện chứng: Phân tích mối liên hệ qua lại, đan xen và bổ trợ giữa pháp luật về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự.
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Làm rõ các khái niệm lý luận về môi trường, trách nhiệm pháp lý và pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong bảo vệ môi trường.
    • Phương pháp thống kê: Tập hợp, xử lý các dữ liệu thực tế về hiện trạng ô nhiễm, tỷ lệ vi phạm, kết quả thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam.
    • Phương pháp phân tích thuần túy quy phạm: Rà soát, đối chiếu các quy phạm pháp luật thực định về trách nhiệm hình sự, hành chính, dân sự trong các đạo luật và nghị định chuyên ngành.
    • Phương pháp so sánh pháp luật: Khảo cứu, đối chiếu quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong bảo vệ môi trường của một số quốc gia (như Singapore) với pháp luật Việt Nam.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp 1992 sửa đổi 2001; Luật Bảo vệ môi trường 1993, 2005; các luật chuyên ngành: Đất đai 2003, Thủy sản 2003, Xây dựng 2003/2009, Khoáng sản 1996/2005/2010, Bảo vệ và phát triển rừng 2004, Tài nguyên nước 1998/2004; Bộ luật Hình sự 1999; các Nghị định 117/2009/NĐ-CP, 113/2010/NĐ-CP, 67/2003/NĐ-CP, 65/2006/NĐ-CP...); các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng (Chỉ thị 36, Nghị quyết 41); báo cáo thanh tra và Báo cáo Môi trường Quốc gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2003–2010; tài liệu pháp luật nước ngoài.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này điểm luận chi tiết bối cảnh ô nhiễm môi trường toàn cầu và thực trạng suy thoái môi trường tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường. Tác giả tổng thuật các nghiên cứu trong và ngoài nước chia theo các mảng: quản lý kinh tế môi trường, lý luận chung về trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hành chính trong bảo vệ môi trường.

Chương 1 khẳng định khoảng trống học thuật: chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể, khái quát bản chất của pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực môi trường dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Tác giả xác lập mục tiêu nghiên cứu toàn diện ba dạng trách nhiệm pháp lý, kết hợp khảo cứu vụ án thực tế và kinh nghiệm quốc tế để đưa ra giải pháp hoàn thiện.

Chương 2: Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Chương 2 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cho luận án với các nội dung trọng tâm:

  1. Bản chất của môi trường và trách nhiệm pháp lý: Phân tích 5 quan điểm về môi trường, xác định trách nhiệm pháp lý theo cả hai nghĩa tích cực và tiêu cực.
  2. Bốn đặc điểm của trách nhiệm pháp lý (nghĩa tiêu cực) trong bảo vệ môi trường:
    • Cơ sở của trách nhiệm pháp lý là hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường (có tính trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực thực hiện, gây thiệt hại cho xã hội).
    • Chứa đựng yếu tố lên án của Nhà nước và xã hội; thực hiện thông qua hoạt động tài phán và áp dụng chế tài trừng phạt, khôi phục quyền bị xâm phạm.
    • Liên quan mật thiết với cưỡng chế nhà nước (tước đoạt hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể vi phạm).
    • Cơ sở pháp lý là quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  3. Tám đặc trưng của pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường:
    • Đối tượng tác động rất rộng, bao trùm mọi yếu tố môi trường (đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái...) đòi hỏi tính đồng bộ, thống nhất.
    • Đối tượng điều chỉnh là các cá nhân, tổ chức (chủ yếu là cơ sở sản xuất, kinh doanh) vi phạm quy định môi trường.
    • Khó khăn trong việc xác định hành vi và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả do tác động môi trường thường diễn ra trong thời gian dài, khó đo đếm ngay lập tức.
    • Có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống "tiêu chuẩn môi trường" – tiêu chuẩn vừa là công cụ kỹ thuật vừa là công cụ pháp lý xác định vi phạm.
    • Khó xác định lỗi khi có sự cộng hưởng chất thải từ nhiều chủ thể khác nhau (từng nhà máy xả thải đúng chuẩn nhưng tổng lượng xả thải của cả khu công nghiệp gây ô nhiễm nặng).
    • Quy định nhóm hành vi vi phạm cụ thể: vi phạm về đánh giá tác động môi trường (ĐTM); vi phạm bảo vệ tài nguyên, đa dạng sinh học; vi phạm xuất nhập khẩu công nghệ, hóa chất; vi phạm bảo quản/sử dụng chất dễ gây ô nhiễm; vi phạm vệ sinh công cộng, chất thải, tiếng ồn, độ rung.
    • Hậu quả vi phạm thường là ô nhiễm, suy thoái hoặc sự cố môi trường – là căn cứ để định khung trách nhiệm.
    • Sự đan xen, bổ sung giữa trách nhiệm hình sự, dân sự và hành chính: Trách nhiệm hành chính và hình sự loại trừ nhau trên cùng một hành vi (nguyên tắc không xử phạt hai lần), nhưng có thể áp dụng kèm trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại. Trách nhiệm hành chính là công cụ phổ biến, hữu hiệu nhất trên thực tế.
  4. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Trích dẫn Chỉ thị 36-CT/TW (1998), Nghị quyết Đại hội IX (2001), Nghị quyết 41-NQ/TW (2004) về nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền/khắc phục, bồi thường thiệt hại", chủ trương không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế, định hướng xây dựng Bộ luật Môi trường.
  5. Kinh nghiệm pháp luật của Singapore: Sử dụng chế tài hình sự làm công cụ cơ bản; quy định trách nhiệm hình sự đối với cả pháp nhân và thể nhân; đa số tội phạm môi trường có cấu thành hình thức; phân chia thành trách nhiệm tương đối và trách nhiệm tuyệt đối (không cần chứng minh yếu tố lỗi chủ quan trong một số trường hợp cụ thể như vứt rác, đầu mẩu thuốc lá); áp dụng hình phạt tiền linh hoạt với mức phạt nghiêm khắc (ví dụ: xả rác nơi công cộng phạt tới 10.000 USD cho lần đầu, tái phạm phạt tới 20.000 USD) kết hợp phạt cải tạo lao động bắt buộc cho người từ 16 tuổi trở lên.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Chương này đánh giá thực trạng môi trường, tình hình vi phạm pháp luật và hệ thống quy định về trách nhiệm pháp lý thực định tại Việt Nam:

  • Dữ liệu thực trạng ô nhiễm và vi phạm: Luận án dẫn chứng số liệu thanh tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Sở Tài nguyên và Môi trường các địa phương:
Chỉ số / Tiêu chí thống kê thực trạng Số liệu / Tỷ lệ thực tế
Tổng số cơ sở bị thanh tra xử phạt và yêu cầu xử lý ô nhiễm triệt để 439 cơ sở
Cơ sở đã xử lý ô nhiễm đạt yêu cầu 156 cơ sở (chiếm 36%)
Cơ sở đã và đang triển khai biện pháp xử lý 218 cơ sở (chiếm 49%)
Cơ sở chưa có biện pháp xử lý đáng kể nào 65 cơ sở (chiếm 15%)
Tỷ lệ hoàn thành xử lý triệt để của các cơ sở thuộc bộ, ngành quản lý Trung bình đạt 40%
Tỉnh có >50% cơ sở hoàn thành xử lý ô nhiễm triệt để (giai đoạn 2003–2005) 17 / 29 tỉnh
Tỉnh có >50% cơ sở hoàn thành xử lý ô nhiễm triệt để (giai đoạn 2003–2007) 20 / 63 tỉnh
Cơ sở có phát sinh nước thải "bỏ qua" xin giấy phép xả nước thải 100%
Doanh nghiệp phát thải khí không có thiết bị xử lý chất nguy hại 100%
Doanh nghiệp không chấp hành quy định lập ĐTM hoặc cam kết BVMT 55% – 70%
  • Phân tích những bất cập, hạn chế của hệ thống pháp luật:
    • Quy định pháp luật phân tán, thiếu quy hoạch tổng thể (đặc biệt trong lĩnh vực môi trường biển).
    • Quy định về xác định thiệt hại môi trường (như tại Nghị định 113/2010/NĐ-CP) mới dừng lại ở thiệt hại trước mắt, đo đếm trực tiếp được, chưa có cơ chế tính toán thiệt hại sinh thái lâu dài.
    • Thiếu quy định cụ thể và thống nhất về việc sử dụng nguồn kinh phí bồi thường thiệt hại để phục hồi môi trường.
    • Tranh cãi lý luận và thực tiễn về bản chất của trách nhiệm khắc phục ô nhiễm (là trách nhiệm hành chính hay dân sự).
    • Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm pháp lý còn chồng chéo; mức xử phạt vi phạm hành chính chưa đủ sức răn đe.
    • Phân tích điển hình qua vụ án Công ty Vedan xả thải không qua xử lý ra sông Thị Vải: Bộc lộ rõ sự lúng túng trong áp dụng chế tài hình sự (chưa xử lý hình sự được pháp nhân tại thời điểm đó), khó khăn trong việc khởi kiện dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại cho nông dân và hạn chế trong áp dụng chế tài hành chính.

Chương 4: Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp xuất phát từ các tiêu chí hoàn thiện:

  • Xác lập tiêu chí hoàn thiện: Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, công khai, minh bạch, phù hợp với nguyên tắc nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chuẩn bị cơ sở pháp lý ứng phó với biến đổi khí hậu.
  • Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý: Sửa đổi, bổ sung các quy phạm chế tài hình sự, hành chính và dân sự; khắc phục tình trạng chồng chéo trong thẩm quyền xử phạt của các cơ quan quản lý nhà nước; nâng cao mức chế tài xử phạt hành chính; quy định rõ ràng cơ chế tính toán thiệt hại môi trường và trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
  • Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nói chung: Rà soát, đồng bộ hóa các luật chuyên ngành (đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, xây dựng, bảo vệ và phát triển rừng), hướng tới mục tiêu xây dựng Bộ luật Môi trường thống nhất.
  • Các biện pháp hỗ trợ: Nâng cao ý thức pháp luật và văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường của người dân và doanh nghiệp; đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường; phát huy vai trò phản biện xã hội của các tổ chức, hiệp hội môi trường; tăng cường năng lực thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các vi phạm.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp mới về mặt lý luận:

    • Luận án phân tích khái niệm trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở cả hai bình diện "tích cực" và "tiêu cực", đi sâu vào trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tiêu cực để xác lập định nghĩa khoa học về "pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường", xác định hình thức thể hiện, phạm vi tác động và đối tượng điều chỉnh của lĩnh vực này.
    • Khái quát hệ thống 8 đặc trưng cơ bản của pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong bảo vệ môi trường, chỉ ra mối quan hệ tương hỗ và phân định phạm vi áp dụng giữa trách nhiệm hình sự, hành chính và dân sự.
    • Xác lập hệ thống các tiêu chí và yêu cầu khoa học làm căn cứ cho việc hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực môi trường tại Việt Nam.
  • Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:

    • Đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật thông qua các số liệu thống kê thanh tra thực tế và phân tích thực tiễn từ vụ việc vi phạm của Công ty Vedan.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ: hoàn thiện quy phạm chế tài chuyên ngành (hình sự, hành chính, dân sự), hoàn thiện thẩm quyền và cơ chế phối hợp của các cơ quan quản lý, định hướng xây dựng Bộ luật Môi trường và các giải pháp nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Văn bản luận án chưa mở rộng nghiên cứu sâu cơ chế xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với tội phạm môi trường theo các đạo luật hình sự sửa đổi sau này, cũng như chưa khảo cứu sâu kinh nghiệm pháp luật của nhiều hệ thống pháp luật châu Âu hoặc Bắc Mỹ ngoài trường hợp của Singapore, Australia và Liên Xô/Đức.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu đánh giá tác động thực tế của các quy định bồi thường thiệt hại môi trường ngoài hợp đồng theo các văn bản luật môi trường giai đoạn mới; nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường thông qua tòa án chuyên biệt và cơ chế ký quỹ, bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành luật: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo về lý luận trách nhiệm pháp lý, pháp luật môi trường và luật học so sánh.
    • Giảng viên, nhà nghiên cứu: Cung cấp khung phân tích lý luận về 8 đặc trưng của trách nhiệm pháp lý môi trường và phương pháp phân định các chế tài pháp luật.
    • Cơ quan lập pháp, nhà hoạch định chính sách, cán bộ thanh tra tài nguyên và môi trường: Cung cấp luận cứ khoa học và các tiêu chí cụ thể để sửa đổi, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, phân định thẩm quyền xử phạt và hoàn thiện cơ chế xác định thiệt hại môi trường.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 (phần luận giải 8 đặc trưng của pháp luật trách nhiệm pháp lý môi trường và kinh nghiệm pháp luật Singapore) và Chương 3 (phần phân tích vụ án Công ty Vedan cùng bảng số liệu thanh tra xử lý ô nhiễm của Bộ Tài nguyên và Môi trường).

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án tiếp cận khái niệm môi trường và trách nhiệm pháp lý theo hướng nào? Luận án tiếp cận khái niệm môi trường theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người). Về trách nhiệm pháp lý, luận án phân tích cả nghĩa tích cực (nghĩa vụ, bổn phận) và nghĩa tiêu cực (chế tài, cưỡng chế của Nhà nước do hành vi vi phạm trong quá khứ), trong đó đi sâu nghiên cứu trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tiêu cực.

  2. Theo luận án, pháp luật trách nhiệm pháp lý trong bảo vệ môi trường có những đặc trưng tiêu biểu nào? Luận án chỉ ra 8 đặc trưng, nổi bật gồm: đối tượng tác động rộng bao gồm mọi thành phần môi trường; việc xác định hành vi và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả rất khó khăn do hậu quả kéo dài; gắn bó chặt chẽ với các quy chuẩn/tiêu chuẩn môi trường; khó xác định lỗi khi có sự cộng hưởng ô nhiễm từ nhiều chủ thể; và sự kết hợp, đan xen, bổ trợ giữa trách nhiệm hình sự, hành chính và dân sự.

  3. Thực trạng xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được luận án dẫn chứng bằng số liệu nào? Theo số liệu thanh tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường được nêu trong luận án, trong số 439 cơ sở bị xử phạt và yêu cầu xử lý ô nhiễm triệt để, có 156 cơ sở xử lý đạt yêu cầu (36%), 218 cơ sở đang triển khai (49%) và 65 cơ sở chưa có biện pháp đáng kể (15%). Tỷ lệ cơ sở hoàn thành xử lý triệt để thuộc các bộ, ngành chỉ đạt trung bình 40%.

  4. Kinh nghiệm pháp luật của Singapore về trách nhiệm pháp lý môi trường có những điểm đáng chú ý nào được luận án phân tích? Singapore lấy chế tài hình sự làm công cụ cơ bản; áp dụng trách nhiệm hình sự đối với cả pháp nhân và thể nhân; đa số tội phạm môi trường có cấu thành hình thức; phân loại hành vi thành chịu trách nhiệm tương đối và trách nhiệm tuyệt đối (không cần chứng minh trạng thái lỗi trong ý thức người vi phạm ở một số hành vi như vứt rác bừa bãi); và áp dụng hình phạt tiền rất nặng (từ 10.000 USD đến 20.000 USD khi tái phạm) kết hợp cải tạo lao động bắt buộc.

  5. Mối quan hệ giữa trách nhiệm hành chính, hình sự và dân sự trong bảo vệ môi trường được luận án phân định như thế nào? Trách nhiệm hành chính và hình sự loại trừ nhau đối với cùng một hành vi vi phạm (không áp dụng đồng thời cả hai hình thức cho một hành vi để đảm bảo nguyên tắc xử lý một lần), nhưng một trong hai hình thức này có thể áp dụng đồng thời với trách nhiệm dân sự (bồi thường thiệt hại). Trách nhiệm dân sự có thể áp dụng biện pháp chấm dứt vi phạm ngay khi có hành vi vi phạm mà chưa cần phát sinh thiệt hại thực tế, trong khi bồi thường thiệt hại và trách nhiệm hình sự bắt buộc phải chứng minh yếu tố thiệt hại/hậu quả nghiêm trọng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đình Nhâm là công trình chuyên khảo nghiên cứu toàn diện về pháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật. Công trình đã làm rõ hệ thống khái niệm, đặc điểm và 8 đặc trưng lý luận của pháp luật trách nhiệm pháp lý môi trường, đồng thời phân tích sâu thực trạng áp dụng pháp luật qua các số liệu thống kê và vụ án thực tế. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp và tiêu chí hoàn thiện các chế tài hình sự, hành chính, dân sự và định hướng xây dựng Bộ luật Môi trường nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và ý thức bảo vệ môi trường tại Việt Nam.