mở đầu tố tụng hình sự có nhiệm vụ xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm. Giai đoạn này mở đầu bằng việc phát hiện hoặc tiếp nhận thông tin về tội phạm và kết thúc bằng quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự" [38, tr. Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội cũng cho rằng: "Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án" [81, tr. Các công trình nghiên cứu như Từ điển thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988, Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 của các tập thể tác giả khác nhau (Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 do GS.TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên, Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 của Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp.) cũng đưa ra những khái niệm tương tự về khởi tố VAHS.
Chúng tôi cũng đồng ý với những định nghĩa nêu trên, trong đó, cùng thống nhất những nội dung sau đây trong nội hàm khái niệm khởi tố: thứ nhất, khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn và là giai đoạn mở đầu của TTHS; thứ hai, khởi tố VAHS là giai đoạn tố tụng có hai nhiệm vụ cơ bản: (i) xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm và (ii) quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự; thứ ba, giai đoạn này mở đầu bằng việc tiếp nhận thông tin về tội phạm (từ các nguồn khác nhau như tin báo, tố giác, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, người bị hại, người chứng kiến, của chính người phạm tội, thông tin về tội phạm do các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát 18 hiện khi thực hiện chức năng nhiệm vụ) và kết thúc bằng việc ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố VAHS. Khởi tố VAHS là một giai đoạn tố tụng bao gồm các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm nhằm đi tới kết luận khẳng định có dấu hiệu của tội phạm và ra quyết định khởi tố vụ án, hoặc kết luận đây là trường hợp có một trong các căn cứ không được khởi tố vụ án và ra quyết định không khởi tố vụ án. Tuy nhiên, có một số ý kiến tranh luận về tính độc lập của giai đoạn khởi tố, về việc khởi tố vụ án có phải là một giai đoạn độc lập so với giai đoạn điều tra hay không? Có quan điểm cho rằng, khởi tố chỉ là một bước trong giai đoạn điều tra vụ án, có quan điểm nhấn mạnh khởi tố như một giai đoạn tố tụng độc lập với giai đoạn điều tra do giai đoạn khởi tố có những đặc điểm riêng mà giai đoạn điều tra hay các giai đoạn tố tụng khác không có. Chúng tôi nhận thấy việc phân chia giai đoạn khởi tố tách bạch với giai đoạn điều tra là phù hợp và cần thiết, bởi lẽ giai đoạn khởi tố có nhiệm vụ riêng, có thời điểm bắt đầu và kết thúc; để phân đoạn một cách rõ rệt, có các văn bản tố tụng đặc trưng thể hiện kết quả xử lý vụ án ở giai đoạn này.
Cụ thể, nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố là xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để từ đó có biện pháp xử lý tương ứng, trong khi đó nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là xác định đầy đủ những tình tiết của tội phạm cũng như người phạm tội. Do đó, những hoạt động tố tụng để xác định dấu hiệu của tội phạm trong giai đoạn khởi tố được áp dụng một cách hạn chế và chủ yếu là một số hoạt động điều tra ban đầu, có sự khác biệt rất lớn về phạm vi và tính chất so với các hoạt động tố tụng được áp dụng trong giai đoạn điều tra. Thời điểm bắt đầu giai đoạn khởi tố VAHS khi các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận thông tin về tội phạm (thông tin về tội phạm do các chủ thể bên ngoài chuyển đến và thông tin về tội phạm do bản thân các cơ quan đó trực tiếp phát hiện và được ghi nhận lại), kết thúc khi các cơ quan này ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố VAHS, văn bản tố tụng đặc trưng của giai đoạn này chính là quyết định khởi tố VAHS, quyết định không khởi tố VAHS. Giai đoạn 19 khởi tố cũng có những đặc thù riêng về các biện pháp xác định dấu hiệu của tội phạm và biện pháp ngăn chặn được các cơ quan có thẩm quyền áp dụng.
Tất nhiên, việc phân chia các giai đoạn như trên chỉ mang tính chất tương đối bởi về cơ bản, vụ án vẫn đang trong tiến trình giải quyết của cùng một cơ quan, ít có sự chuyển giao từ cơ quan này sang cơ quan khác, các hoạt động kiểm tra, xác minh dấu hiệu của tội phạm bản chất cũng vẫn là các hoạt động xác định tội phạm, và sau khi đã khởi tố vụ án, các hoạt động điều tra vẫn phải tiếp tục thực hiện mà không có sự ngừng nghỉ, gián đoạn. Ý nghĩa quan trọng của việc nhấn mạnh tính độc lập của giai đoạn khởi tố VAHS xuất phát từ sự khác biệt cơ bản của giai đoạn này với giai đoạn điều tra, đó là chỉ sau khi có quyết định khởi tố vụ án, TTHS mới chuyển sang giai đoạn chính thức áp dụng các biện pháp điều tra xử lý vụ án, chính thức xác định cơ tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như chính thức xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Từ các phân tích trên, chúng tôi cho rằng: khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để quyết định việc khởi tố vụ án, giai đoạn này mở đầu bằng hoạt động tiếp nhận thông tin về tội phạm và kết thúc bằng hoạt động ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Khái niệm xử lý vụ án hình sự Khái niệm "xử lý vụ án hình sự" về cơ bản vẫn chưa được làm sáng tỏ trong khoa học luật TTHS.
Theo Từ điển tiếng Việt, xử lý được hiểu là: "Xem xét và giải quyết về mặt tổ chức một vụ phạm lỗi nào đó, ví dụ: xử lý nghiêm minh một vụ vi phạm kỷ luật" [112, tr. Trong Bộ luật hình sự (BLHS), khái niệm xử lý được nhắc tới tại Điều 3 (về nguyên tắc xử lý), Điều 69 (về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội) thể hiện các nội dung của chính sách hình sự về quan điểm, đường lối giải quyết các hành vi phạm tội và người phạm tội. Khảo sát các công trình nghiên cứu mang tính chất định 20 nghĩa, giải thích thuật ngữ pháp lý như Từ điển luật học, Từ điển thuật ngữ Luật học, Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng. thì ngoài cuốn Sổ tay kiến thức pháp luật của Điều tra viên của PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh năm 2006, chúng tôi nhận thấy các tác giả những công trình khoa học trên chưa đưa ra khái niệm "xử lý vụ án hình sự".
Các tạp chí chuyên ngành, các sách chuyên khảo và giáo trình luật TTHS cũng chưa có sự luận giải đáng kể nào về nội dung của khái niệm này. Chúng tôi cho rằng, theo cách nhận thức thông thường thì xử lý được hiểu là hoạt động giải quyết một vấn đề, một sự việc nào đó. Như vậy, trong TTHS, xử lý VAHS có thể được hiểu là tất cả các hoạt động giải quyết một VAHS. Do đó, về nội hàm khái niệm, chúng tôi cơ bản cũng đồng ý với quan điểm của PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh cho rằng: "Trong tố tụng hình sự, xử lý vụ án hình sự chính là việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng… Xử lý vụ án còn một cách gọi khác là giải quyết vụ án" [1, tr.
228], mặc dù phạm vi chủ thể của hoạt động xử lý VAHS là rộng hơn (không chỉ có các cơ quan tiến hành tố tụng mà còn là các cơ quan khác được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng). Nội dung của xử lý VAHS là tổng hợp các quyết định, hành vi tố tụng để xác định hành vi phạm tội và dạng, mức trách nhiệm hình sự tương ứng, giải quyết một số vấn đề khác liên quan đến người phạm tội, đến vụ án. Như vậy, xử lý VAHS là những hoạt động tố tụng, những hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện mà nội dung cốt lõi của nó là truy cứu TNHS người phạm tội. Truy cứu TNHS người phạm tội là "hoạt động của Nhà nước thông qua các cơ quan của mình để buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện" và "thuộc về truy cứu trách nhiệm hình sự là những hoạt động khởi tố của cơ quan điều tra, truy tố của cơ quan viện kiểm sát, xét xử của cơ quan Tòa án và có thể cả cưỡng chế thi hành biện pháp của trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội của cơ quan thi hành án" [26, tr.
Nói cách khác, xử lý VAHS là các hoạt động của các cơ quan nhà nước có 21 thẩm quyền buộc người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS đã thực hiện hành vi phạm tội được luật hình sự quy định phải chịu TNHS về hành vi phạm tội mà người đó đã thực hiện. Để truy cứu TNHS người phạm tội, CQĐT phải khởi tố, điều tra, VKS phải truy tố ra trước Tòa án để xét xử và Tòa án phải tiến hành việc xét xử. Đây cũng chính là một quy trình xử lý VAHS với hai vấn đề quan trọng phải giải quyết: xác định tội phạm và xử lý người phạm tội. Xác định tội phạm là quá trình chứng minh kể từ lúc phát hiện các dấu hiệu của tội phạm đến khi sự kiện phạm tội và con người phạm tội được làm rõ trên cơ sở đầy đủ các chứng cứ.