CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm chung về pháp luật Trọng tài thương mại 1.Khái niệm về pháp luật Trọng tài thương mại Luật Mẫu về Trọng tài của Ủy ban luật thương mại của Liên Hợp quốc (được gọi tắt là UNCTTRAL) thông qua 21 tháng 06 năm 1985 sửa đổi và bổ sung năm 2006 là văn bản trong hệ thống các văn bản do Uỷ ban này xúc tiến nhằm thống nhất hoá các qui định về môi trường đầu tư và thương mại giữa các nước trên thế giới. Trong lĩnh vực Trọng tài thương mại Luật này hướng các quốc gia thành viên xây dựng thể chế phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Riêng với Việt Nam trong quá trình xây dựng Luật Trọng tài đã lấy nguyên Luật Mẫu và chỉnh sửa những chỗ cần thiết nhất sao cho phù hợp với pháp luật cũng như hoạt động cụ thể tại Việt Nam để ban hành Luật Trọng tài.
Điều đó cho thấy Luật Mẫu là một chuẩn mực pháp lí quốc tế, hình thành từ rất lâu nhưng vẫn được các quốc gia rất coi trọng và đặc biệt vẫn rất phù hợp với thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Khái niệm Trọng tài Có nhiều quan niệm khác nhau về Trọng tài, cụ thể như sau: Theo cuốn “Từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z”, năm 2010: Trọng tài là một cách giải quyết bất đồng trong quan hệ công nghiệp mà không cần đưa ra pháp luật hay đình công {39, tr53}. Theo Hiệp hội trọng tài Mỹ (AAA): Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành. Theo Công ước La Hay về việc quy định thẩm quyền trách nhiệm của trọng tài, năm 1988: Trọng tài là cách thức giải quyết những bất đồng giữa các bên thông qua một người thứ ba do chính các bên lựa chọn trên cơ sở tôn trọng luật pháp".
Đồng thời, hiệp định La Hay qui định: Trọng tài có đối tượng giải quyết là những 7 tranh chấp thông qua sự can thiệp của những Trọng tài viên do các quốc gia đó tự chọn và đặt trên cơ sở của sự tôn trọng luật pháp. Tóm lại: Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các bên với nhau, được thực hiện thông qua một cá nhân do các bên lựa chọn hoặc bởi việc dựa trên những thủ tục hay những tổ chức nhất định được lựa chọn bởi chính các bên {55; tr2}. Khái niệm Trọng tài thương mại: Trong khoa học pháp lý, Trọng tài thương mại được nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau, nhưng chủ yếu dưới hai phương diện là: Trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp và Trọng tài là một thiết chế giải quyết tranh chấp. Có thể hiểu rằng: Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được thành lập tự nguyện bởi các trọng tài viên để giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại theo yêu cầu của các bên tranh chấp.
Pháp luật về Trọng tài thương mại là tổng hợp Luật và các văn bản quy phạm pháp luật của trọng tài do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong cơ quan tổ chức và hoạt động giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động tranh chấp thương mại. Sự hình thành và phát triển của pháp luật Trọng tài thương mại Trọng tài ra đời khá lâu nhưng mãi đến nửa sau thế kỉ thứ XX mới phát triển một cách mạnh mẽ. Có thể nói, phương thức Trọng tài xuất hiện là hình thức tiền thân của việc hình thành các Tòa án sau này. Tòa Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia.
Hình thái đấu tiên về Trọng tài có thể bắt nguồn từ các quốc gia thành bang cổ Hy Lạp, cổ La Mã và thời Xuân Thu Chiến Quốc cũng có ghi chép lại hình thức Trọng tài này. Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp. Quy định sơ khai về Trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước. Về sau Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu.
Nhìn chung, chế độ trọng 8 tài thời xưa chủ yếu dùng để giải quyết tranh chấp giữa chủ nợ và khách nợ. Đối với các nước có nền kinh tế hàng hải phát triển lâu đời như Vương quốc Anh cũng phải mất một khoảng thời gian dài mới đặt Trọng tài vào đúng vị trí của nó. Trong hệ thống Luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về Trọng tài phải kể đến Luật Trọng tài 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua, đây đã là một phương thức rất phổ biến (phán quyết đầu tiên của Trọng tài ở Anh được đưa ra vào năm 1610). Tuy nhiên, các quy định sơ khai về Trọng tài trong hệ thống luật common law thể hiện một hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể khước từ việc thực hiện phán quyết của Trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình.
Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật năm 1697. Luật Trọng tài của nước Anh liên tiếp được sửa đổi, bổ sung theo hướng tự do hơn cho Trọng tài hoạt động trong mối liên hệ với Tòa án. Còn ở Mỹ, hiệp hội trọng tài đã được thành lập với số lượng lớn và đông nhất trên thế giới. Đặc biệt, trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở Hội đồng Trọng tài.
Việc giải quyết tranh chấp này kéo dài 7 năm, và được coi là kết thúc thành công.Từ đầu thế kỷ XX, các nước (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt đầu thông qua các đạo luật quy định và khuyến khích việc phân xử ở cấp Trọng tài thay cho kiện tụng ở Tòa án vốn được cho là kém hiệu quả hơn. Châu Âu lục địa thì lại có những tổ chức Trọng tài truyền thống như: Tòa án Trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại và Công nghiệp quốc tế ( ICC), hoặc đặc thù như Viện Trọng tài bên cạnh phòng Thương mại quốc tế Stockhom ( Thụy Điển). Bên cạnh đó, Châu Âu cũng đã và đang có những củng cố và thành lập mới nhiều tổ chức Trọng tài quốc gia nhằm đáp ứng các đòi hỏi của nền kinh tế phát triển theo xu thế hội nhập toàn cầu. Bên cạnh sự phát triển của các tổ chức trọng tài quốc gia và ở các khu vực lớn, trong những năm gần đây các tổ chức này đang ngày càng phát triển mạnh mẽ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Trong hơn 30 năm trở lại đây, các quốc gia có nền kinh tế thị trường năng động trong khu vực này đã tổ chức lại các Trung tâm Trọng tài quốc gia hoặc thành lập các tổ chức trọng tài mới như: Tại các nước xung 9 quanh Việt Nam, các tổ chức Trọng tài liên tiếp ra đời như: Trọng tài thuộc Phòng thương mại Thái Lan (1990), Trung tâm Trọng tài quốc tế Hồng Kông ( (1987), Trung tâm Trọng tài Kualalumpur ( 1967), Trung tâm Trọng tài quốc tế Singapore (1991)… Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, nhất là việc tăng cường mậu dịch quốc tế, Trọng tài đã trở thành một phương tiện được áp dụng rộng rãi trên thế giới để giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế, dẫn tới việc hình thành những tổ chức Trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thương mại quốc tế. Cùng với đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều của hệ thống các văn bản pháp luật quốc tế và ở mỗi quốc gia nhằm điều chỉnh về việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài. Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập kỷ gần đây. Các quốc gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho phù hợp với tình hình thực tế; các điều ước quốc tế về trọng tài đang có thêm những thành viên mới; Trọng tài trở thành một môn học trong chương trình đào tạo ngành Luật; các doanh nghiệp ngày càng tin tưởng vào một phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi trên phạm vi thế giới.
Vai trò của pháp luật Trọng tài thương mại Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài rất tôn trọng ý chí của các bên và đương sự. Các bên có quyền lựa chọn Trọng tài viên, chọn thủ tục Trọng tài nhằm giải quyết một cách có hiệu quả tranh chấp mà tốn ít chi phí về mặt thời gian cũng như tài chính. Việc giải quyết tranh chấp có thể được tiến hành bởi một Trọng tài viên hay một Hội đồng Trọng tài tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng pháp luật về trọng tài thương mại có tính ràng buộc các bên đương sự về mặt pháp lý.
Điều đó làm cho cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài hữu hiệu hơn biện pháp hòa giải hay thương lượng. Quyết định của Trọng tài thương mại mang tính hiệu lực pháp luật, các bên có nghĩa vụ phải thi hành. Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài linh hoạt hơn Tòa án. Trong cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, các trọng viên được các bên lựa chọn có 10 quyền xét xử và ra các quyết định xét xử một cách hoàn toàn độc lập trên cơ sở chứng cứ, tài liệu mà các bên cung cấp hoặc có được bằng con đường khác như Trọng tài viên tự điều tra xem xét hay giám định viên và nhân chứng cung cấp trên cơ sở những quy định của pháp luật.
Tố tụng trọng tài các bên có quyền tự do lựa chọn Trọng tài viên, lựa chọn cơ quan Trọng tài giải quyết khi có tranh chấp. Cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng, thuận lợi cho các bên.