Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thương mai bằng phương thức thương lượng, hoà giải. Chương 2: Pháp luật hiện hành và thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức thương lượng, hoà giải; Chương 3: Phương hướng xây dựng, hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức thương lượng, hoà giải. Phần kết luận Danh mục tài liệu tham khảo. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE GIẢI QUYẾT TRANH CHAP THƯƠNG MAI BẰNG PHƯƠNG THỨC THƯƠNG LƯỢNG, HOÀ GIẢI.
KHÁI NIỆM TRANH CHAP THƯƠNG MAI Chính sách của Đảng và Nhà nước ta là thực hiện nhất quán lâu dai việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đang tiến hành chương trình phát triển kinh tế đối ngoại theo hướng tham gia ngày càng sâu rộng vào thi trường quốc tế, tham gia khối mau dich tự do AFTA, xúc tiến tham gia WTO, áp dụng các chuẩn mực thương mại quốc tế. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thương mại trong nước và quốc tế phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, truyền thống văn hoá và tâm lý Việt Nam đồng thời hội nhập với các xu thế, chuẩn mực quốc tế là điều cấp thiết. Trong các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thì thương lượng, hoà giải là một trong hai phương thức lựa chọn đã được các nhà kinh doanh và các luật gia của nhiều nước quan tâm nghiên cứu, sử dụng trong thực tiễn thương trường quốc tế đặc biệt là trong hơn hai thập kỷ gần đây.
Ở nước ta, mặc dù thương lượng, hoà giải đã được nhân dân và Nhà nước phi nhận là phương thức giải quyết truyền thống, nhất là đối với các tranh chấp nhỏ trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình. Tuy vậy, chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, thiếu các thiết chế và tổ chức cần thiết để khẳng định và phát huy vai trò của thuơng lượng, hoà giải trong giải quyết tranh chấp thương mai. Để hiểu được tranh chấp thương mại là gì thì phải hiểu rõ thuật ngữ “tranh chấp”. Theo Từ điển Tiếng Việt thì tranh chấp được hiểu là sự giành giật, giang co nhau cái không thuộc về bên nào [50].
Thông thường, khi nói về tranh chấp, người ta nghĩ ngay mâu thuẫn, bất đồng hoặc xung đột giữa các chủ thể trong một quan hệ. Nguyên nhân của tranh chấp có nhiều hình nhiều vẻ. Tuy nhiên, mọi tranh chấp đều liên quan mật thiết đến lợi ích kinh te. Theo tác gia luận văn, tranh chấp là sự bất đồng, xung đột về quyền lợi, mâu thuần về quan điểm của các thể nhân, pháp nhân với nhau trong một xã hội có giai cấp.
Hiện nay, thuật ngữ tranh chấp kinh tế được sử dụng khá rộng rãi trong khoa học pháp lý cũng như đời sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh thuật ngữ này, chúng ta còn biết đến các thuật ngữ tranh chấp thương mại, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp hợp đồng kinh tế. Thuật ngữ TCKT lại được hiểu ở các mức độ khác nhau: nếu xuất phát từ luật nội dung thì TCKT bao gồm các tranh chấp pháp sinh từ quan hệ kinh tế do pháp luật kinh tế điều chỉnh. Pháp luật kinh tế bao gồm nhiều ngành luật khác nhau như Luật Kinh tế, Luật Tài chính, Luật Ngân hàng.TCKTT hiểu theo nghĩa này là rất rộng.
Ở góc độ luật hình thức, TCKT là những tranh chấp thuộc thẩm quyền của TAND được liệt kê theo Điều 12 Pháp lệnh TTGQCVAKT. Việc liệt kê như vậy lại quá hẹp, không bao quát được hết các tranh chấp đã và sẽ phát sinh trong nên kinh tế thị trường Việt Nam. Nếu căn cứ vào văn bản pháp luật quy định về hợp đồng thì thuật ngữ tranh chấp kinh tế được hiểu rất hẹp gần như chỉ bó gọn trong phạm vi tranh chấp hợp đồng kinh tế. Nếu hiểu tranh chấp kinh tế theo nghĩa tranh chấp của các nhà kinh doanh thì tranh chấp kinh tế bao gồm các tranh chấp thuộc lĩnh vực kinh tế, từ hợp đồng kinh tế, ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, xây dựng.
Còn thuật ngữ tranh chấp thương mại ở luật thực định được hiểu như là các tranh chấp xuất phát từ các hành vi thương mại được liệt kê tại Điều 14 Luật Thương mại (1997) do các thương nhân thực hiện thì chỉ là thương mại hàng hoá. Loại tranh chấp này chỉ là một phần rất nhỏ của tranh chấp kinh tế: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hién không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mat” (Điều 238) (27, tr 113] mà hoạt động thương mai là: “ việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội”( khoản 2 Điều 5)[27, tr 15]. Như vậy, sử dụng thuật ngữ nào để bao quát được hết các tranh chấp của các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phù hợp với luật pháp quốc tế hiện nay đang là vấn đề còn bỏ ngỏ. Một trong những nội dung cơ bản của toàn cầu hoá là tự do hoá thương mại, loại bỏ rào cản thương mại, tạo điều kiện cho hàng hoá, dịch vụ, sức lao động và tư bản được đi chuyển tự do vượt ra cả ngoài khuôn khổ quốc gia.
Tranh chấp thương mại giờ đây không chỉ giới hạn trong một quốc gia. Mặt khác nguồn pháp luật để giải quyết các tranh chấp này cũng không chỉ bó hẹp trong luật quốc gia, pháp luật quốc tế mà còn phải vận dụng đến tập quán và thông lệ quốc tế. Với xu thế hội nhập toàn cầu, đã tham gia “sân chơi” trên thương trường quốc tế, pháp luật quốc gia phải tương thích với pháp luật quốc tế. Đáp ứng yêu cầu này, trong luận văn, tác giả xây dựng khái niệm tranh chấp thương mại dựa trên khái niệm thương mại của Tổ chức WTO và Luật mẫu của UNCITRAL.
Theo tổ chức này, thì khái niệm thương mại ở đây được đề cập ở nghĩa rộng liên quan tới tất cả các mối quan hệ có bản chất thương mại dù là hợp đồng hoặc không phải là quan hệ hợp đồng, bao gồm song không giới hạn bởi các giao dịch để cung cấp hay trao đổi hàng hoá, dịch vụ, các hợp đồng phân phối, chi nhánh hoặc đại diện thương mại, đại lý, cho thuê, gia công sản phẩm, tu vấn, sở hữu công nghiệp, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khai thác, tô nhượng, liên doanh hoặc các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh. Khái niệm này có thể tương xứng với khái niệm kinh doanh được dùng trong pháp luật Việt Nam: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tu, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm 10 hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm muc dich sinh lợi"(Điều 3)[22, trl1876], hay với khái niệm thương mại: “ Hoạt động thương mai là việc thực hién một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện; đại lý thương mại; ký gửi; cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li xăng; đầu tur; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật( Điều 2) [42, tr 1547]. Các khái niệm trên có nội hàm giống như khái niệm thương mại của WTO. Điều này là phù hợp với luật phát quốc tế, phù hợp với luật pháp trong nước vì thiết chế giải quyết các tranh chấp thương mại là Trọng tài Thương mại đã ra đời thay thé cho trọng tài kinh tế theo Nghị định 116/CP (1994).
Như vậy, thuật ngữ tranh chấp thương mại được hiểu là tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, hay tranh chấp trong hoạt động thương mại theo như các khái niệm nêu trên và tương xứng với thuật ngữ tranh chấp kinh tế (kinh tế được hiểu theo nghĩa luật tư). Trong luận văn này, có sử dụng thuật ngữ tranh chấp kinh tế, tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thì cũng được hiểu là những thuật ngữ đồng nhất với thuật ngữ tranh chấp thương mại nói trên. Vậy, tranh chấp thương mại được hiểu là sự xung đột lợi ích của các chủ thể kinh doanh khi tiến hành các hoạt động kinh doanh trên thương trường. Nói một cách khác tranh chấp thương mại còn được hiểu là sự bất đồng về một hiện tượng pháp lý (quyền và nghĩa vụ) pháp sinh trong đời sống kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh doanh và thông thường gắn liền với các yếu tố, lợi ích về tai san [11, tr 28] hay là: “.
ranh chấp phát sinh giữa các bên trong một giao dịch thương mai’’ (Khoản 4 Điều 9)[13]. Ti khái niệm trên có thể thấy, tranh chấp thương mại có những đặc điểm cơ bản sau: - N6 luôn gắn liền với những hoạt động kinh doanh của các chủ thể; - _ Chủ thể tranh chấp thương mại là chủ thể của hoạt động kinh doanh; 11 - N6 là sự biểu hiện ra bên ngoài là sự phản ánh của những xung đột về mặt lợi ích kinh tế giữa các bên. Tranh chấp thương mại khá đa dạng bat nguồn từ những hành vi vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật, nhưng loại tranh chấp mang tính phổ biến van là tranh chấp về hợp đồng. Nhung không phải bất kỳ sự vi phạm pháp luật nào cũng dẫn đến tranh chấp thương mại.
Có những trường hợp không có sự vi phạm nào nhưng cũng vẫn phát sinh tranh chấp thương mại. Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định về vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại còn nhiều bất cập. Trong hệ thống pháp luật, các quy định về các phương thức giải quyết tranh chấp thì vừa thiếu, vừa yếu. Trong các quy định của pháp luật thì song song tồn tại các quy phạm pháp luật về hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại (nghĩa hẹp).
Điều này dẫn đến có sự phân biệt về cách thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua Toà kinh tế hay Toà dân sự. Các phuơng thức ngoài tố tụng thì chỉ mới dừng ở mức độ ghi nhận mà thiếu các quy định cần thiết để cho chúng vận hành.