CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE GIẢI QUYÉT TRANH CHAP GIỮA THƯƠNG NHÂN VỚI NGƯỜI TIEU DUNG BANG CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYET TRANH CHAP NGOÀI TOA ÁN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái quát về tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng 1. Khái niệm tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng Dé làm rõ khái niệm tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng, trước hết cần hiểu về ba định nghĩa: người tiêu dùng: thương nhân; và tranh chấp. Định nghĩa người tiêu dùng: Người tiêu dùng là khái niệm rộng có thể hiểu đưới nhiều góc độ khác nhau.
Dưới góc độ kinh tế: Người tiêu dùng là phạm trù chỉ những chủ thé tiêu thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế. Người tiêu dùng là người mua nhưng khác với mua nguyên liệu hoặc mua hàng dé bán lại họ là những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó [2. Hay theo từ điển Kinh tế học hiện đại định nghĩa: “Người tiêu dùng là bat cứ don vị kinh té nào có nhu cau tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng., thông thường, người tiêu dùng được coi là một cả nhân nhưng trên thực tế, người tiêu dùng có thê là cơ quan, các ca 11 nhân và nhóm cá nhân. Trong trường hợp cuối cùng, điều đáng lưu ÿ là, để có quyết định, đơn vị tiêu dùng là hộ gia đình chứ không phải là cá nhân ” [§, tr.193] Dưới góc độ pháp lý: Tại Việt Nam, khái niệm pháp lý người tiêu dùng được đề cập đến đầu tiên trong Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 [29, Điều 1].
Sau này, khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 được ban hành thay thé Pháp lệnh, nhiều nội dung đã được sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, khái niệm “Người tiêu dùng” vẫn được quy định như trong Pháp lệnh. Theo đó, Khoản 1 Điều 3 quy định: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ cho mục dich tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. Đến Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2023 có hiệu lực ngày 01/7/2024 đã tiếp tục bố sung định nghĩa về người tiêu dùng tại Khoản 1 Điều 3 quy định: “Người tiéu dùng là người mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt của cá nhân, cơ quan, tổ chức và không vì mục đích thương mại”.
Bồ sung tiêu chí “không vì mục đích thương mai” đề xác định rõ người tiêu dùng, tạo căn cứ thống nhất trong quá trình xác định người tiêu dùng. Như vậy các khách hàng mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ có liên quan tới mục đích thương mại sẽ không được coi là người tiêu dùng theo luật mới. Hiểu rõ khái niệm về người tiêu dùng không chỉ là vấn đề lý luận mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật, giúp xác định đúng đối tượng tượng bảo vệ của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bởi người tiêu dùng được hưởng sự ưu tiên hơn so với các chủ thể luật dân sự khác trong các giao dịch cũng như trong giải quyết các tranh chấp. Xác định một chủ thể là người tiêu dùng thường dựa vào các đặc điểm sau: Thứ nhât, người tiêu dùng là cá nhân.
Trong việc tự bảo vệ quyên lợi của mình 12 năng lực của tô chức thường tốt hơn cá nhân. Xác định người tiêu dùng là cá nhân xuất phát từ chính mục đích ra đời của lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng là hỗ trợ những người tiêu dùng yếu thế trong quan hệ với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Thứ hai, đối tượng của giao dịch là các hàng hóa, dịch vụ đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt vật chất va tinh thần của cá nhân con nguoi. Những hang hóa dịch vu thiết yếu của con người như đồ ăn, thức uống, thuốc chữa bệnh.
được coi là đối tượng đương nhiên của giao dịch đối với người tiêu dùng. Khi đó, các quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn đối với sức khỏe con người được áp dụng. Thứ ba, việc mua hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng cho sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình và không nham mục đích thương mại. Mục đích tiêu dùng, sinh hoạt ở đây có nghĩa là người tiêu dùng mua hàng hóa, dịch vụ dé sử dụng cho nhu cau của cá nhân, gia đình mình.
Mục đích tiêu dùng, sinh hoạt không phải là phục vụ cho việc mua đi bán lại hay hay cho hoạt động sản xuất kinh doanh khác hoặc các hoạt động nghề nghiệp. Người tiêu dùng cũng có thé là bên thứ ba được hưởng quyền lợi. Họ có thể không có quan hệ trực tiếp với nhà cung cấp không tham gia giao dịch mua bán nhưng vẫn là người tiêu dùng. Họ có thê được người mua tặng, cho, cấp phát.
Ví dụ như: mẹ mua quà cho con, học sinh được nhà trường tặng phần thưởng. Định nghĩa thương nhân: Trên thế giới có nhiều cách định nghĩa về thương nhân khác nhau nhưng có hai cách hiểu về thương nhân được sử dụng rộng rãi. Cách định nghĩa thứ nhất: định nghĩa theo bản chất thương mại của hành vi (thực hiện hành vi thương mại) và cách định nghĩa thứ hai: theo bản chất thương mại của hành vi và hình thức đăng ký chủ thé của hành vi. Cộng hoà Pháp, Brazil, Italy, Bi là những quốc gia sử dụng cách định nghĩa thứ nhất trong khi Cộng 13 hoà Liên bang Đức, Hoa kỳ, Hà Lan, Thuy Sỹ, Thuy Điển và Cộng hoà Czech là những quốc gia sử dụng cách định nghĩa thứ hai [7, tr.
Ở Việt Nam, khái niệm thương nhân lần đầu tiên được quy định trong Luật Thương mại năm 1997, theo đó “7#zzơng nhân gom cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng kỷ kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên” [30, Khoản 6 Điều 5]. Khi Luật Thương mai năm 2005 được ban hành thay thế cho Luật Thương mại năm 1997, khái niệm thương nhân được quy định với nội dung “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” [31, Điều 6]. Về cách thức định nghĩa, Luật Thương mai năm 1997 và Luật Thương mại năm 2005 đều định nghĩa khái niệm thương nhân căn cứ vào bản chất thương mại của hành vi do chủ thé thực hiện và hình thức đăng ký (đăng ký kinh doanh) của chủ thê thực hiện hành vi. Định nghĩa tranh chấp: Tòa án Công lý Quốc tế (The International Court of Justice — ICJ) tiền thân là Tòa án thường trực công lý quốc tế PCIJ trong các án lệ của mình định nghĩa răng: “Mộ ranh chấp là một sự bat đồng về một van dé pháp lý hay thực tế, một sự xung đột về quan điểm pháp lý hay lợi ích giữa hai bên.
Như vậy, ở góc độ chung nhất, có thể hiểu tranh chấp giữa Thương nhân với người tiêu dùng là sự bắt đồng, mâu thuẫn hoặc xung đột giữa các chủ thé trong quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi Người tiêu dùng trong đó Người tiêu dùng với tư cách là một bên trong quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi Người tiêu dùng, là bên bị thiệt hại hoặc cho rằng bị thiệt hại đòi hỏi quyên và lợi ích hợp pháp của mình. 14 Dựa trên quan niệm tranh chấp giữa Thương nhân với người tiêu dùng, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam được áp dụng dé giai quyết các tranh chap sau: - Các tranh chấp giữa Thương nhân với người tiêu dùng liên quan đến nội dung tranh chấp như: Tranh chấp liên quan tới chất lượng hàng hóa, dịch vụ; Tranh chấp liên quan tới hợp đồng được giao kết giữa Thương nhân với người tiêu dùng: Tranh chấp liên quan tới các nghĩa vụ bán hàng của thương nhân. - Cac tranh chấp giữa Thương nhân với người tiêu dùng liên quan tới chủ thé tranh chấp như: Tranh chấp giữa Người tiêu dùng với nhà phân phối bán buôn, nhà nhập khẩu; Tranh chấp giữa Người tiêu dùng với nhà phân phối bán lẻ. Đặc điểm tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng Bắt nguồn từ sự bất cân xứng về vị thế giữa thương nhân với người tiêu dùng trong quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, pháp luật giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng đảm bảo quyền tự định đoạt trước hết của người tiêu dùng.
Xu hướng bắt cân xứng giữa thương nhân với người tiêu dùng có thê là bất cân xứng về thông tin; bất cân xứng về năng lực tài chính; bất cân xứng về năng lực đàm phán; bất cân xứng về năng lực chịu rủi ro; bất cân xứng về khả năng tiếp cận pháp luật. Quyền tự định đoạt trước hết của người tiêu dùng được thể hiện ở khía cạnh khi phát sinh tranh chấp, người tiêu ding — một bên chủ thé tham gia giao dịch/hợp đồng tiêu dùng này không có mục đích lợi nhuận được quyền ưu tiên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp ngay cả khi thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong giao dịch/hợp đồng đã giao dịch. Điều này cho phép người tiêu dùng được tùy nghi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp 15 phù hợp với điều kiện của mình mà không bị ràng buộc bởi phương thức giải quyết tranh chấp do thương nhân ấn định trong hợp đồng. Đồng thời, pháp luật để điều chỉnh cho giao dịch/hợp đồng tiêu dùng này sẽ do bên không có mục đích lợi nhuận — người tiêu dùng lựa chọn, tuy nhiên quyền tự định đoạt nay của người tiêu dung cũng có những hạn chế nhất định liên quan tới các phương thức giải quyết tranh chấp được lựa chọn để giải quyết tranh chấp.
Khác với các lĩnh vực pháp luật khác, việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực trong cuộc sống. Vì vậy, khó có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh hết tất cả các lĩnh vực này mà phải tạo dựng một hệ thống pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng. Bên cạnh Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ta có thé liệt kê một số đạo luật điều chỉnh lĩnh vực này như: Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật bảo hiểm xã hội, Luật An toàn thực phẩm, Luật Quảng cáo, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật Cạnh tranh,.