Tổng quan luận án

Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án (TA) và Trọng tài thương mại (TTTM) là hai phương thức giải quyết tranh chấp mang tính tài phán cùng song hành tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Điểm khác nhau cơ bản giữa hai phương thức này thể hiện ở chỗ: TA là cơ quan tư pháp do Nhà nước thành lập, thực hiện quyền tư pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 với vai trò là cơ quan tài phán công. Trong khi đó, TTTM là cơ quan tài phán mang tính chất tư, do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn để hội đồng trọng tài (HĐTT) giải quyết vụ việc.

Do tính chất phi chính phủ, thẩm quyền của TTTM bị giới hạn trong việc thực hiện các quyền lực mang tính cưỡng chế công như: áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT), triệu tập người làm chứng, và không có bộ máy cưỡng chế thi hành phán quyết trọng tài (PQTT) riêng biệt. Những giới hạn này nếu không được tháo gỡ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, làm giảm hiệu quả giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia đều ghi nhận thẩm quyền của TA trong việc hỗ trợ tư pháp đối với TTTM nhằm khắc phục những hạn chế vốn có này.

Tại Việt Nam, thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với hoạt động trọng tài được quy định trong Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM 2010), Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/03/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết 01/2014) và Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015). Tuy nhiên, các quy định này còn phân tán, thiếu đồng bộ và chưa tương thích đầy đủ với Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài (Công ước New York 1958) cũng như Luật Mẫu của Ủy ban Pháp luật Thương mại Quốc tế của Liên Hợp Quốc về Trọng tài Thương mại Quốc tế (Luật Mẫu UNCITRAL 1985, sửa đổi năm 2006). Trên thực tế, các TA Việt Nam gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi áp dụng pháp luật; chỉ số xếp hạng của Việt Nam liên quan đến chất lượng giải quyết tranh chấp thương mại và hỗ trợ tư pháp cho TTTM còn hạn chế. Mặc dù ngày 02/10/2019, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án hoàn thiện pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng phương thức TTTM, thực tiễn triển khai vẫn còn nhiều bất cập.

Mục đích nghiên cứu của Luận án là: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM, Luận án đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với TTTM nhằm thúc đẩy sự phát triển của TTTM, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên và phát triển mối quan hệ giữa TA và TTTM trong giai đoạn hiện nay.

Để đạt được mục đích đó, Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Luận giải để làm rõ khái niệm, đặc điểm về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM; làm rõ các khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM.
  2. Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM; chỉ ra những bất cập của pháp luật và những vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định pháp luật.
  3. Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với hoạt động TTTM, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn và yếu kém của TA trong việc áp dụng các quy định liên quan.
  4. Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM và rút ra bài học cho Việt Nam.
  5. Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với TTTM trong thời gian tới.

Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM là gì? Thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM có đặc điểm và nội dung như thế nào? Vì sao cần có quy định của pháp luật về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM?
  • Câu hỏi 2: Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định như thế nào về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với TTTM trong nước và nước ngoài? Quy định đó có phù hợp với Công ước New York và Luật Mẫu UNCITRAL không?
  • Câu hỏi 3: Thực trạng thực hiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với TTTM trong nước và TTTM nước ngoài hiện nay như thế nào? Đâu là những bất cập và đâu là những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện thẩm quyền tư pháp này?
  • Câu hỏi 4: Cần có những giải pháp nào để bổ sung, sửa đổi nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với TTTM và nâng cao chất lượng thực hiện thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với TTTM và cơ sở khoa học nào để luận giải cho các giải pháp đó?

Tương ứng với các câu hỏi trên, Luận án xây dựng 4 giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết 1: Quan niệm về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM còn chưa rõ ràng, chính xác nhưng có thể xác định rằng thẩm quyền hỗ trợ tư pháp là thẩm quyền của TA trong việc giải quyết các yêu cầu của một bên hoặc của HĐTT liên quan đến TTTM và nhằm trợ giúp cho hoạt động TTTM trong nước và nước ngoài trong quá trình giải quyết tranh chấp tại TTTM. Nội dung thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với TTTM còn chưa được quy định một cách rõ ràng, dẫn đến việc thực thi còn nhiều khó khăn. Cần có quy định pháp luật để ấn định các nguyên tắc, quy tắc, quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hỗ trợ tư pháp với TA nhằm giảm thiểu hạn chế của TTTM.
  • Giả thuyết 2: Các quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với TTTM về cơ bản đã có sự phù hợp với Công ước New York và Luật Mẫu UNCITRAL, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập vì quy định chưa cụ thể, rõ ràng; do đó cần phải bổ sung, sửa đổi để hoàn thiện.
  • Giả thuyết 3: Thực trạng thực hiện thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với cả TTTM trong nước và nước ngoài còn nhiều vướng mắc, khó khăn.
  • Giả thuyết 4: Chưa có biện pháp hiệu quả để khắc phục những hạn chế trong thực tiễn thực hiện thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với cả TTTM trong nước và nước ngoài.

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các vấn đề liên quan đến thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM, các quy định pháp luật Việt Nam về TTTM và về hỗ trợ tư pháp của TA, các quy định pháp luật của một số nước về vấn đề này, cùng các điều khoản tương ứng trong Công ước New York 1958 và Luật Mẫu UNCITRAL.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về nội dung: Luận án giới hạn phân tích các quy định về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM tại Điều 6, khoản 2 Điều 7 LTTTM 2010 và khoản 5 Điều 31 BLTTDS 2015, bao gồm 9 vấn đề: (i) Thẩm quyền của TA trong việc từ chối thụ lý trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài; (ii) Thẩm quyền của TA đối với việc chỉ định trọng tài viên (TTV) để thành lập HĐTT vụ việc; (iii) Thẩm quyền của TA đối với yêu cầu thay đổi TTV của HĐTT vụ việc; (iv) Thẩm quyền của TA đối với yêu cầu thu thập chứng cứ; (v) Thẩm quyền của TA đối với yêu cầu TA áp dụng các BPKCTT; (vi) Thẩm quyền của TA đối với yêu cầu triệu tập người làm chứng; (vii) Thẩm quyền đăng ký PQTT đối với Trọng tài vụ việc; (viii) Thẩm quyền của TA đối với yêu cầu hủy PQTT trong nước; và (ix) Thẩm quyền của TA đối với yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam PQTT của TTTM nước ngoài.
  • Về thời gian: Luận án giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2003 (năm ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 - PLTTTM 2003) cho đến nay.
  • Về không gian: Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam (LTTTM 2010, BLTTDS 2015), các chuẩn mực quốc tế (Công ước New York 1958, Luật Mẫu UNCITRAL) và pháp luật của một số quốc gia, vùng lãnh thổ như Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Đức, Singapore, Hồng Kông. Luận án không xem xét các điều ước quốc tế song phương và đa phương khác mà Việt Nam tham gia.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong Luận án được phân định thành hai nhóm nghiên cứu chính:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về TTTM nói chung:

  • Về khái niệm và đặc tính của TTTM: Công trình Fouchard Gaillard Goldman on International Commercial Arbitration của các tác giả E. Gaillard và J. Savage xác định trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chất tư thay thế TA dựa trên sự thỏa thuận của các bên, tố tụng không công khai, phán quyết có tính chung thẩm và ràng buộc. Gary B. Born trong các ấn phẩm về trọng tài thương mại quốc tế nhận định trọng tài là thủ tục do các bên đồng thuận đưa vụ việc ra giải quyết tại một cơ quan không thuộc chính phủ theo quy trình công bằng, không thiên vị. Tài liệu của UNCTAD về giải quyết tranh chấp phân tích thủ tục ban hành PQTT, chấm dứt tố tụng và việc áp dụng BPKCTT tại Tòa án. Andrew Tweeddale và Keren Tweeddale trong A practical approach to arbitration law đi sâu vào các khía cạnh tố tụng trọng tài thực tiễn.
  • Về phân biệt TTTM trong nước và TTTM nước ngoài: Công trình hướng dẫn của Ban Thư ký UNCITRAL (The UNCITRAL Secretariat Guide on the Convention on the recognition and enforcement of foreign arbitral awards) và nghiên cứu của Albert Jan van den Berg (When Is an Arbitral Award Non-domestic Under the New York Convention of 1958?) phân tích tiêu chí xác định quốc tịch phán quyết dựa trên nơi công bố hoặc khái niệm phán quyết phi nội địa (non-domestic awards). Tại Việt Nam, cuốn Sổ tay pháp luật về Trọng tài và Hòa giải do Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) phối hợp ban hành năm 2017 đã làm rõ các tiêu chí phân định này, chỉ ra rằng việc pháp luật Việt Nam dựa trên quốc tịch của tổ chức trọng tài thay vì nơi ban hành phán quyết là điểm chưa tương thích với thông lệ quốc tế.
  • Quá trình phát triển TTTM tại Việt Nam: Luận án điểm lại các mốc thể chế từ Nghị định số 116-CP ngày 05/09/1994 về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế đến PLTTTM 2003 và LTTTM 2010. Các công trình của Trần Minh Ngọc (2004), Trần Hữu Huỳnh (2004) đánh giá hạn chế của PLTTTM 2003 khi đặt trọng tài ở vị thế bất lợi so với Tòa án; trong khi các nghiên cứu sau năm 2010 phân tích những điểm đổi mới của LTTTM 2010 trong việc tiếp thu các nguyên tắc quốc tế như quyền tự do thỏa thuận (party autonomy), tính độc lập của thỏa thuận trọng tài (separability), thẩm quyền của thẩm quyền (competence-competence), tính chung thẩm (finality), thủ tục công bằng (due process) và bảo mật (confidentiality).

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM:

  • Lý luận về quyền tư pháp và sự can thiệp của Tòa án: Montesquieu trong Tinh thần pháp luật, Josef Thesing trong Nhà nước pháp quyền, các nghiên cứu của Jean-Marc Sauvé và ấn phẩm chú giải Hiến pháp Hoa Kỳ (The U.S. Constitution Annotated) thiết lập nền tảng về sự phân chia quyền lực và tính độc lập của tư pháp. Tại Việt Nam, Nguyễn Đăng Dung và Võ Khánh Vinh nghiên cứu thể chế tư pháp và quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền.
  • Cơ sở lý thuyết điều chỉnh mối quan hệ TA - TTTM: Hong-Lin Yu trong bài viết A theoretical overview of the foundation of international commercial arbitration tổng kết 4 học thuyết pháp lý: lý thuyết quyền tài phán (jurisdictional theory), lý thuyết hợp đồng (contractual theory), lý thuyết lai (hybrid theory) và lý thuyết tự thỏa thuận (autonomous theory). Jan K. Schaefer trong bài viết Court Assistance in Arbitration - Some Observations on the Critical Stand-by Function of the Courts phân tích chức năng hỗ trợ mang tính sẵn sàng can thiệp của Tòa án. Tại Việt Nam, Đào Trí Úc luận giải bản chất thẩm quyền của Tòa án phát sinh từ yêu cầu của HĐTT thực chất là sự chuyển hóa quyền năng của HĐTT thành quyền lực có tính cưỡng chế của Nhà nước; Phạm Thị Hồng Đào lý giải sự cần thiết hỗ trợ tư pháp từ bản chất TTTM và yêu cầu quản lý nhà nước.
  • Tranh luận học thuật về ranh giới giữa thẩm quyền "hỗ trợ" và "giám sát": Nhóm quan điểm thứ nhất (Nguyễn Thị Yến) cho rằng việc xem xét hủy hay không hủy PQTT cũng mang tính chất hỗ trợ TTTM vì giúp khắc phục sai phạm, bảo đảm tính khách quan và hiệu lực thi hành của phán quyết. Nhóm quan điểm thứ hai phân định rạch ròi: các công việc theo điểm e, điểm f khoản 1 Điều 7 LTTTM 2010 (giải quyết khiếu nại về thẩm quyền và yêu cầu hủy PQTT) là thẩm quyền giám sát; còn các công việc từ điểm a đến điểm đ khoản 1 Điều 7 và thủ tục đăng ký PQTT vụ việc là thẩm quyền hỗ trợ tư pháp thuần túy.

Khoảng trống nghiên cứu được Luận án lựa chọn giải quyết: Qua tổng quan tài liệu, Luận án chỉ ra 4 vấn đề còn bỏ ngỏ:

  1. Chưa có công trình phân tích đầy đủ các đặc điểm của TTTM gắn với các yếu tố phân định TTTM trong nước và TTTM nước ngoài theo pháp luật Việt Nam để làm rõ vai trò hỗ trợ tư pháp của TA.
  2. Chưa có công trình luận án tiến sĩ nào phân tích toàn diện cơ sở lý luận về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với TTTM (khái niệm, đặc điểm, nội dung, sự cần thiết và vai trò pháp lý).
  3. Chưa có nghiên cứu đánh giá đầy đủ, có hệ thống thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực thi thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với cả TTTM trong nước và nước ngoài để chỉ ra các vướng mắc, bất cập cụ thể.
  4. Chưa có hệ thống giải pháp mang tính tổng thể, toàn diện và đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực thực thi thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA Việt Nam đối với TTTM.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các hệ thống lý thuyết và học thuyết pháp lý:

  • Học thuyết Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Luận giải mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng; xác định pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, tự do hóa thương mại và hội nhập quốc tế.
  • Lý thuyết về quyền tự do thỏa thuận của các bên (party autonomy): Được ghi nhận trong Luật Mẫu UNCITRAL; xác lập quyền của các bên trong việc tự định đoạt thủ tục tố tụng trọng tài. Lý thuyết này được sử dụng để lý giải ranh giới giữa tài phán tư và tài phán công, làm rõ nguyên nhân TTTM bị giới hạn quyền năng cưỡng chế và bắt buộc phải có sự trợ giúp từ Tòa án.
  • Lý thuyết về quyền tài phán của Tòa án quốc gia (jurisdictional theory): Khẳng định tố tụng trọng tài chịu sự điều chỉnh của pháp luật nơi có địa điểm giải quyết tranh chấp (seat of arbitration). Luận án sử dụng lý thuyết này để chứng minh căn cứ và phạm vi xác lập thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với hoạt động trọng tài diễn ra trên lãnh thổ quốc gia.
  • Lý thuyết về nguyên tắc xét xử một lần (res judicata): Xác định PQTT có giá trị chung thẩm, ràng buộc các bên và không bị xét xử lại về mặt nội dung bởi cơ quan tài phán khác. Lý thuyết này giúp luận giải nguyên tắc TA không can thiệp vào nội dung tranh chấp khi thực hiện quyền hỗ trợ thi hành phán quyết.
  • Lý thuyết pháp luật (Legal theory) và các quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về cải cách tư pháp và phát triển kinh tế thị trường.

Hướng tiếp cận của đề tài: Luận án tiếp cận đa ngành (Kinh tế, Thương mại và Luật học), đa lĩnh vực (Kinh tế và Luật học) và liên ngành (giữa pháp luật kinh doanh thương mại và pháp luật tố tụng tư pháp).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích, luận giải và tổng hợp: Được sử dụng xuyên suốt 4 chương để làm rõ các khái niệm, phân tích nội dung các quy phạm pháp luật và tổng hợp các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp hệ thống hóa và phân tích: Sử dụng tại Chương 1 để phân loại, đánh giá các công trình nghiên cứu đi trước; tại Chương 2 để hệ thống hóa các đặc trưng, nội dung thẩm quyền hỗ trợ tư pháp.
  • Phương pháp luật học so sánh: Được sử dụng tại Chương 2, Chương 3 và Chương 4 để đối chiếu các quy định của pháp luật Việt Nam với Công ước New York 1958, Luật Mẫu UNCITRAL và pháp luật trọng tài của một số quốc gia như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Đức, Singapore.
  • Phương pháp phân tích tình huống: Sử dụng tại Chương 3 để bình luận các vụ việc thực tế được thụ lý và giải quyết tại TA Việt Nam, nhận diện các sai sót và bất cập trong áp dụng pháp luật.

Nguồn dữ liệu: Luận án sử dụng nguồn dữ liệu văn bản pháp luật thực định (Hiến pháp năm 2013, LTTTM 2010, BLTTDS 2015, Nghị quyết 01/2014, Luật Thương mại năm 2005, PLTTTM 2003, Nghị định 116-CP), các điều ước quốc tế, cùng dữ liệu thống kê từ TANDTC và các tổ chức trọng tài.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài Luận án

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về TTTM và thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA. Tác giả phân tích sự chuyển dịch từ cơ chế trọng tài kinh tế thuần túy quản lý nhà nước sang cơ chế trọng tài tài phán tư phi chính phủ theo chuẩn mực quốc tế. Nội dung chương làm rõ các quan điểm về tiêu chí xác định quốc tịch trọng tài, tranh luận về việc xếp các nhóm việc vào diện "hỗ trợ" hay "giám sát", xác lập 4 khoảng trống nghiên cứu, đề xuất hệ thống câu hỏi, giả thuyết và luận chứng cho việc áp dụng khung lý thuyết đa ngành.

Chương 2. Những vấn đề lý luận về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại

Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng:

  • Khái niệm thẩm quyền tư pháp: Dẫn chiếu định nghĩa trong từ điển Black’s Law Dictionary, xác định quyền tư pháp (judicial power) là thẩm quyền trao cho TA xem xét, quyết định vụ việc, ban hành quyết định bắt buộc thi hành, giải thích và áp dụng pháp luật khi có tranh chấp.
  • Khái niệm thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM: Là quyền năng và nghĩa vụ pháp lý của TA do pháp luật quy định nhằm trợ giúp, tạo điều kiện thuận lợi và khắc phục những hạn chế về mặt quyền lực công của HĐTT trong quá trình tố tụng trọng tài và thi hành phán quyết.
  • Đặc điểm: Thẩm quyền mang tính phái sinh (chỉ phát sinh khi có yêu cầu hợp pháp từ đương sự hoặc HĐTT); mang tính bổ khuyết (cung cấp biện pháp cưỡng chế công mà trọng tài không sở hữu); mang tính độc lập tương đối (hỗ trợ thủ tục nhưng không can thiệp nội dung tranh chấp); và bảo đảm nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận trọng tài.
  • Sự cần thiết khách quan: Xuất phát từ bản chất tài phán tư của trọng tài; bảo đảm hiệu lực thực thi của tố tụng trọng tài; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế và xây dựng môi trường đầu tư an toàn.
  • Nội dung cơ bản của pháp luật về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp: Phân chia theo hai giai đoạn: (i) hỗ trợ trước và trong tố tụng (từ chối thụ lý khi có thỏa thuận trọng tài; chỉ định, thay đổi TTV vụ việc; thu thập chứng cứ; triệu tập người làm chứng; áp dụng BPKCTT); (ii) hỗ trợ sau phán quyết (đăng ký PQTT vụ việc; hủy hoặc không hủy PQTT; công nhận và cho thi hành PQTT nước ngoài).

Chương 3. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam đối với trọng tài thương mại

Chương 3 phân tích quy định thực định và số liệu thực tiễn áp dụng 9 nhóm thẩm quyền hỗ trợ tư pháp:

  • Nhóm việc trước và trong tố tụng: Quy định về từ chối thụ lý vụ án khi có thỏa thuận trọng tài (Điều 6 LTTTM 2010) còn vướng mắc do cách hiểu chưa thống nhất về "thỏa thuận trọng tài vô hiệu" hoặc "thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được". Hoạt động áp dụng BPKCTT (Điều 48, Điều 53 LTTTM 2010) gặp khó khăn do thủ tục yêu cầu biện pháp bảo đảm tài chính phức tạp, thời gian xử lý kéo dài làm mất tính khẩn cấp. Việc hỗ trợ thu thập chứng cứ và triệu tập người làm chứng còn thiếu cơ chế cưỡng chế và chế tài cụ thể đối với bên thứ ba không hợp tác.
  • Nhóm việc liên quan đến thi hành phán quyết: Tồn tại bất cập trong việc áp dụng căn cứ hủy PQTT theo Điều 68 LTTTM 2010, đặc biệt là sự lạm dụng điều khoản "trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam" để xét xử lại nội dung tranh chấp. Đối với PQTT nước ngoài, tiêu chí xác định dựa trên quốc tịch thay vì lãnh thổ tạo ra sự không tương thích với Công ước New York 1958.

Số liệu thực tiễn được Luận án tổng hợp qua hai bảng thống kê:

Bảng 3.1: Số lượng yêu cầu liên quan việc Trọng tài Thương mại Việt Nam được các Tòa án thụ lý và giải quyết từ năm 2015 đến năm 2019

Năm thụ lý / giải quyết Số lượng yêu cầu thụ lý Số lượng yêu cầu đã giải quyết Số lượng yêu cầu chưa giải quyết Tỷ lệ giải quyết (%)
Năm 2015 Dữ liệu thực tế theo văn bản Dữ liệu thực tế theo văn bản Dữ liệu thực tế theo văn bản Phản ánh tiến độ giải quyết
Năm 2016 Dữ liệu thực tế theo văn bản Dữ liệu thực tế theo văn bản Dữ liệu thực tế theo văn bản Phản ánh tiến độ giải quyết
Năm 2017 Dữ liệu thực tế theo văn bản Dữ liệu thực tế theo văn bản Dữ liệu thực tế theo văn bản Phản ánh tiến độ giải quyết
Năm 2018 Dữ liệu thực tế theo văn bản Dữ liệu thực tế theo văn bản Dữ liệu thực tế theo văn bản Phản ánh tiến độ giải quyết
Năm 2019 Dữ liệu thực tế theo văn bản Dữ liệu thực tế theo văn bản Dữ liệu thực tế theo văn bản Phản ánh tiến độ giải quyết

Bảng 3.2: Kết quả giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành PQTT nước ngoài trong giai đoạn 01/01/2012-30/09/2019

Phân loại kết quả giải quyết Số lượng vụ việc Tỷ lệ (%)
Chấp thuận công nhận và cho thi hành Số liệu theo hồ sơ thống kê TA Tỷ lệ tương ứng
Từ chối công nhận và cho thi hành Số liệu theo hồ sơ thống kê TA Tỷ lệ tương ứng
Đình chỉ giải quyết yêu cầu Số liệu theo hồ sơ thống kê TA Tỷ lệ tương ứng
Tổng số vụ việc thụ lý trong kỳ Tổng số liệu giai đoạn 2012-2019 100%

Chương 4. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam đối với trọng tài thương mại

Chương 4 xây dựng hệ thống giải pháp:

  • Phương hướng: Quán triệt đường lối cải cách tư pháp của Đảng; bảo đảm tính tương thích với Công ước New York 1958, Luật Mẫu UNCITRAL và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, EVIPA); tôn trọng tính tự chủ của trọng tài và bảo đảm sự đồng bộ giữa LTTTM 2010 với BLTTDS 2015.
  • Giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Sửa đổi Điều 6, Điều 7 LTTTM 2010 và Điều 31 BLTTDS 2015 nhằm phân định rõ thẩm quyền hỗ trợ và thẩm quyền kiểm tra, giám sát.
    • Sửa đổi quy định xác định quốc tịch PQTT tại khoản 11, khoản 12 Điều 3 LTTTM 2010 và Điều 424 BLTTDS 2015 theo tiêu chí nơi tuyên phán quyết (lãnh thổ) thay vì quốc tịch của trung tâm trọng tài.
    • Giải thích cụ thể và thu hẹp nội hàm khái niệm "trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam" tại điểm đ khoản 2 Điều 68 LTTTM 2010 để tránh việc TA can thiệp vào nội dung phán quyết.
    • Hoàn thiện quy trình tiếp nhận, thời hạn giải quyết và cơ chế phối hợp trong việc áp dụng BPKCTT, thu thập chứng cứ và triệu tập người làm chứng.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
    • Đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu kiến thức về pháp luật trọng tài và tập quán thương mại quốc tế cho Thẩm phán các cấp.
    • Ban hành các án lệ và nghị quyết hướng dẫn thống nhất nghiệp vụ xét xử liên quan đến trọng tài.
    • Tăng cường cơ chế chia sẻ thông tin giữa ngành Tòa án và các tổ chức trọng tài như Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC).

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học:

  • Về mặt lý luận:
    • Làm rõ khái niệm, đặc điểm và bản chất pháp lý của thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM dưới góc độ một cơ chế tài phán bổ khuyết quyền lực công cho tài phán tư.
    • Luận giải sự cần thiết khách quan và vai trò của các quy định pháp luật điều chỉnh mối quan hệ tương hỗ giữa TA và TTTM trong nền kinh tế thị trường.
    • Hệ thống hóa và ứng dụng các học thuyết pháp lý nền tảng (quyền tự do thỏa thuận, quyền tài phán quốc gia, nguyên tắc xét xử một lần, lý thuyết Nhà nước và pháp luật) để định hình khung phân tích cho thẩm quyền hỗ trợ tư pháp.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Phân tích toàn diện thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam (LTTTM 2010, BLTTDS 2015, Nghị quyết 01/2014) trong mối quan hệ so sánh với Công ước New York 1958 và Luật Mẫu UNCITRAL.
    • Chỉ ra các điểm bất cập, mâu thuẫn trong các quy định pháp luật thực định và các vướng mắc, hạn chế cụ thể của Tòa án các cấp trong thực tiễn thụ lý, giải quyết 9 nhóm việc hỗ trợ trọng tài.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện hướng dẫn nghiệp vụ và nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ Thẩm phán.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Giới hạn phạm vi thời gian từ năm 2003 (khi ban hành PLTTTM 2003) đến thời điểm thực hiện Luận án (năm 2021).
  • Phạm vi nội dung tập trung vào 9 nhóm việc cụ thể ghi nhận tại LTTTM 2010 và BLTTDS 2015; không đi sâu nghiên cứu toàn bộ các điều ước quốc tế song phương và đa phương khác mà Việt Nam tham gia ngoài Công ước New York 1958.
  • Nguồn số liệu thực tiễn phản ánh các giai đoạn công khai được tiếp cận (giai đoạn 2012-2019).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Nghiên cứu cơ chế hỗ trợ tư pháp của Tòa án trong các tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước (ISDS) theo các cam kết tại CPTPP và EVIPA.
  • Nghiên cứu cơ chế phối hợp trực tuyến giữa Tòa án và Trọng tài trong bối cảnh phát triển phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến (ODR).
  • Đánh giá tác động của việc sửa đổi Luật Trọng tài thương mại đối với thực tiễn xét xử sau khi các đề án cải cách thể chế được hoàn thành.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp khung lý luận, tài liệu tham khảo có hệ thống về pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật trọng tài thương mại và thẩm quyền của Tòa án.
  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách (Quốc hội, Bộ Tư pháp, TANDTC): Cung cấp luận cứ khoa học và các kiến nghị sửa đổi, bổ sung cụ thể đối với LTTTM 2010 và BLTTDS 2015.
  • Đối với Thẩm phán và Trọng tài viên: Làm rõ ranh giới can thiệp của Tòa án, quy trình tiếp nhận và giải quyết yêu cầu hỗ trợ tố tụng, hạn chế tình trạng hủy PQTT không đúng căn cứ pháp luật.
  • Đối với luật sư và doanh nghiệp: Cung cấp cẩm nang tham khảo khi lựa chọn phương thức trọng tài, thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án hỗ trợ áp dụng BPKCTT hoặc thi hành phán quyết.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với TTTM được Luận án định nghĩa như thế nào? Thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của TA đối với TTTM là quyền năng và nghĩa vụ theo luật định của TA nhằm giải quyết các yêu cầu của đương sự hoặc của HĐTT, bổ khuyết những giới hạn về quyền lực cưỡng chế của trọng tài, bảo đảm cho quá trình giải quyết tranh chấp tại TTTM diễn ra thuận lợi và phán quyết trọng tài được thực thi hiệu quả.

  2. Luận án nghiên cứu bao nhiêu nhóm nội dung thẩm quyền hỗ trợ tư pháp cụ thể của Tòa án Việt Nam? Luận án giới hạn nghiên cứu 9 nhóm thẩm quyền cụ thể theo LTTTM 2010 và BLTTDS 2015: (i) từ chối thụ lý vụ án khi có thỏa thuận trọng tài; (ii) chỉ định TTV vụ việc; (iii) thay đổi TTV vụ việc; (iv) thu thập chứng cứ; (v) áp dụng BPKCTT; (vi) triệu tập người làm chứng; (vii) đăng ký PQTT vụ việc; (viii) giải quyết yêu cầu hủy PQTT trong nước; và (ix) công nhận và cho thi hành PQTT nước ngoài.

  3. Điểm chưa tương thích cơ bản giữa pháp luật Việt Nam và Công ước New York 1958 được Luận án chỉ ra là gì? Điểm chưa tương thích cơ bản nằm ở tiêu chí phân định phán quyết trọng tài nước ngoài. Pháp luật Việt Nam hiện hành căn cứ vào quốc tịch của tổ chức trọng tài (trọng tài được thành lập theo pháp luật nước ngoài), trong khi Công ước New York 1958 và Luật Mẫu UNCITRAL chủ yếu dựa trên tiêu chí lãnh thổ (nơi ban hành phán quyết trọng tài).

  4. Luận án sử dụng những học thuyết pháp lý nền tảng nào để xây dựng cơ sở lý thuyết? Luận án sử dụng học thuyết Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, lý thuyết về quyền tự do thỏa thuận của các bên (party autonomy), lý thuyết về quyền tài phán của Tòa án quốc gia (jurisdictional theory) và lý thuyết về nguyên tắc xét xử một lần (res judicata).

  5. Nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến tình trạng hủy phán quyết trọng tài bị lạm dụng trong thực tiễn? Nguyên nhân chủ yếu do quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 68 LTTTM 2010 về căn cứ "trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam" mang tính trừu tượng, thiếu hướng dẫn cụ thể, dẫn đến việc một số Tòa án mở rộng giải thích và đi sâu xét xử lại nội dung tranh chấp, vi phạm nguyên tắc chung thẩm của trọng tài.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang đã giải quyết có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam đối với Trọng tài thương mại. Tác phẩm đã phân tích thực trạng các quy định của LTTTM 2010 và BLTTDS 2015 trong mối quan hệ đối chiếu với Công ước New York 1958 và Luật Mẫu UNCITRAL, đồng thời chỉ ra các hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án các cấp. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi được đề xuất có giá trị khoa học, góp phần thúc đẩy sự phối hợp giữa cơ quan tài phán công và tài phán tư trong bối cảnh cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam.