Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI VÀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 1. Khái quát chung về trọng tài và thủ tục tố tụng trọng tài 1. Khái niệm trọng tài Trọng tài – xét về mặt ngữ nghĩa được hiểu là tài phán trung lập, chỉ người thứ ba được cử ra làm người trung gian để phân xử sự bất đồng giữa hai bên. Với ý nghĩa này trọng tài đã xuất hiện từ rất lâu, có vai trò giải quyết các tranh chấp phát sinh theo yêu cầu của các bên.
Hiện nay, trọng tài đã trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến và được nhiều chủ thể đặc biệt là các nhà kinh doanh ưa chuộng, nhất là ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Trọng tài ngày càng được khẳng định vai trò, vị thế của mình trong việc giải quyết các tranh chấp nhờ những ưu thế riêng, xuất phát từ bản chất của trọng tài. Trong khoa học pháp lý, khái niệm trọng tài được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng chủ yếu trên hai phương diện là cơ quan giải quyết tranh chấp và là phương thức giải quyết tranh chấp. Thứ nhất, trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp: Theo từ điển Kinh tế thị trường thì trọng tài với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp “là một phương pháp hòa bình các vụ tranh chấp, là chỉ đôi bên đương sự, tự nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho người thứ ba có tư cách công bằng, chính trực xét xử.
Lời phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực ràng buộc với cả hai bên. Người thứ ba này là người trọng tài do hai bên chọn hoặc là cơ quan trọng tài” [20, tr. 5 Theo Hiệp hội trọng tài Hòa Kỳ: “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một hoặc một số người khách quan xem xét, giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành” [28, tr. Và theo Giáo sư Philipe Fouchar: “Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên thỏa thuận giao cho một cá nhân (Trọng tài viên) thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa họ với nhau” [38, tr.
Cùng với quan điểm coi trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp, cuốn sách “Đạo đức và kỹ năng hành nghề luật sư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã định nghĩa về trọng tài như sau: “Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó hai hoặc nhiều bên đưa vụ tranh chấp của họ ra trước bên thứ ba trung lập để chủ thể này tiến hành giải quyết tranh chấp theo những thủ tục đặc trưng của quá trình đó” [23, tr. Luật Mẫu UNCITRAL cũng quy định: “Trọng tài là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tổ chức thường trực” (Điều 2). Theo Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 thì: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này” (Khoản 1 Điều 3). Thứ hai, trọng tài là một cơ quan giải quyết tranh chấp Giáo trình “Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại” của Đại học Ngoại thương có ghi: “Trọng tài thương mại là cơ quan trung gian được các bên đương sự giao tranh chấp cho để xét xử”[31].
Ngoài ra, Từ điển Luật học Anh – Mỹ của Black đã đưa ra khái niệm về trọng tài dưới góc độ tố tụng. Theo đó, trọng tài được nhìn nhận như một quá trình: “Trọng tài là một quá trình giải quyết tranh chấp do các bên tự nguyện lựa chọn, trong đó bên thứ ba trung lập (trọng tài viên) sau khi nghe các bên trình bày, sẽ ra quyết định có tính chất bắt buộc đối với bên trong tranh chấp ấy” [36, tr. 6 Qua các định nghĩa về trọng tài nêu trên, có thể thấy, quan điểm coi trọng tài là một thiết chế giải quyết các tranh chấp gần như thiên về hình thức nhiều hơn, nhìn nhận sự tồn tại thực tế của Tổ chức Trọng tài dưới dạng là cơ quan tài phán độc lập, tồn tại song song với Tòa án. Còn quan điểm coi trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thiên về mặt bản chất nhiều hơn, khái quát được các đặc trưng của trọng tài khác với các hình thức giải quyết tranh chấp khác.
Vì vậy, theo nghiên cứu của các luật gia ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, định nghĩa trọng tài, với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp được chấp nhận rộng rãi hơn [21, tr. Các định nghĩa về trọng tài nêu trên đều có cơ sở lý luận và thực tiễn, chỉ khác ở góc độ xem xét và mức độ khái quát. Tất cả đều có một điểm chung rằng trọng tài là một công cụ mà người ta sử dụng để giải quyết các tranh chấp theo thủ tục đặc trung là: Do các bên thỏa thuận, vai trò trung lập, đưa ra quyết định có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành… Tất cả những đặc trưng này thể hiện bản chất của trọng tài là một phương thức tài phán tư, kết hợp chặt chẽ hai mặt: thỏa thuận và tài phán. Các hình thức tố tụng trọng tài Trọng tài theo pháp luật hầu hết các nước được tồn tại dưới hai hình thức là Trọng tài vụ việc (Trọng tài ad-hoc) và Trọng tài thường trực (Trọng tài quy chế).
Trong đó: Trọng tài vụ việc là phương thức Trọng tài do các bên thảo thuận thành lập để giải quyết tranh chấp giữa các bên và Trọng tài sẽ tự chấm dứt sự tồn tại khi tranh chấp được giải quyết. Đây là hình thức Trọng tài xuất hiện sớm nhất và được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Ở nước ta, trước khi ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003, hình thức Trọng tài vụ việc mới chỉ được ghi nhận là một hình thức Trọng tài để giải quyết tranh chấp mà chưa có bất kỳ quy định nào về cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài vụ việc. 7 Trọng tài thường trực hay Trọng tài quy chế là thiết chế giải quyết tranh chấp phi Chính phủ.
Các tổ chức Trọng tài hoạt động thường xuyên, liên tục, có trụ sở, có cơ cấu tổ chức cụ thể được quản lý bởi bộ máy điều hành. Trên thế giới Trọng tài thường trực thường được tổ chức dưới những hình thức đa dạng như: Trung tâm Trọng tài (Trung tâm Trọng tài quốc tế Singapore, Trung tâm Trọng tài quốc tế Australia, Trung tâm Trọng tài quốc tế Hồng Kông,…); Hiệp hội Trọng tài (Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ, Hiệp hội Trọng tài Nhật Bản,…); hay các Viện Trọng tài (Viện Trọng tài Stockhom – Thụy Điển) nhưng phổ biến nhất là các Trung tâm Trọng tài. Việc tiến hành giải quyết tranh chấp tại các trung tâm Trọng tài được thực hiện theo quy chế do Trung tâm Trọng tài ban hành, với sự tham gia giải quyết tranh chấp của các Trọng tài viên của trung tâm được các bên lựa chọn. Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 cũng ghi nhận hai hình thức trọng tài này tại Điều 4: “Tranh chấp giữa các bên được giải quyết tại Hội đồng Trọng tài do Trung tâm Trọng tài tổ chức hoặc tại hội đồng Trọng tài do các bên thành lập theo quy định của pháp lệnh này”.
Luật Trọng tài Thương mại 2010 đã kế thừa điểm này đồng thời bổ sung thêm điểm mới về Trọng tài quy chế như sau: Thứ nhất, Luật đã đưa ra định nghĩa pháp lý về Trọng tài quy chế để thay cho khái niệm “Hội đồng Trọng tài được thành lập tại Trung tâm Trọng tài” do Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 quy định. Theo đó, Trọng tài quy chế là hình thức Trọng tài được tiến hành tại Trung tâm Trọng tài và theo quy tắc tố tụng của Trung tâm Trọng tài (khoản 6, Điều 3 Luật Trọng tài Thương mại 2010). Thứ hai, Luật cho phép các trung tâm Trọng tài được xây dựng quy tắc tố tụng Trọng tài phù hợp với quy định của luật và đảm bảo đặc thù của mỗi trung tâm để tăng thêm tính hấp dẫn đối với các bên tranh chấp (khoản 1, Điều 38 Luật Trọng tài Thương mại 2010). 8 Thứ ba, Luật cho phép các tổ chức nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Điều 73 Luật Trọng tài Thương mại 2010).
Đặc điểm của thủ tục tố tụng trọng tài Thứ nhất, thủ tục tố tụng trọng tài đơn giản, chặt chẽ trong khuôn khổ luật định, thuận tiện, giúp giải quyết nhanh gọn vụ tranh chấp. Hầu hết các bên có tranh chấp đặc biệt là các nhà kinh doanh, thủ tục đơn giản, tranh chấp được giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm thời gian là nhu cầu cấp thiết. Do đó, thủ tục tố tụng trọng tài đơn giản hoàn toàn đáp dứng được yêu cầu này. Bởi tố tụng trọng tài diễn ra nhanh chóng, thuận lợi, đảm bảo dân chủ trong quá trình giải quyết tranh chấp, hạn chế đến mức cao nhất sự gián đoạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó, các bên đương sự có quyền định đoạt tối đa trong quá trình tố tụng và thủ tục giải quyết tranh chấp. Họ có quyền lựa chọn nhiều phương án sao cho phù hợp nhất. Trong khi đó, ở Tòa án việc áp dụng pháp luật là “bất di bất dịch”. Đơn cử, nếu như việc xét xử tại Tòa án không thể thiếu thủ tục hỏi và tranh luận thì phiên họp trọng tài không nhất thiết được tổ chức để các bên trực tiếp tranh luận.
Quy định này đã tạo lợi thế cho trọng tài là tiết kiệm thời gian để các bên chủ thể có thể tập trung vào công việc của mình. Mặt khác, thể thức tranh luận làm cho việc giải quyết tranh chấp đơn giản, bớt nặng nề, kéo dài, từ đó, tính dân chủ trong tố tụng trọng tài được đảm bảo. Còn đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và hòa giải cũng không mang tính chất chặt chẽ như thủ tục giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán. Kết quả mà phương thức thương lượng, hòa giải đạt được cũng không mang tính chất cưỡng chế, không được đảm bảo bởi cơ quan thi hành án.
Việc thương lượng, hòa giải phụ thuộc vào thiện chí của các bên. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác do không tìm thấy tiếng nói chung nên việc thương lượng, hòa giải sẽ rơi vào bế tắc. Hơn thế phương thức giải quyết tranh chấp này chưa được pháp luật nước ta quy định cụ thể.