Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Nhâm thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Phạm Hồng Thái, thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật (mã số: 62 38 01 01), bảo vệ tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (trong hồ sơ ghi: Đại học Thiên Hà Nội - Khoa Luật, năm 2024). Luận án được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách về điều chỉnh pháp luật đối với lĩnh vực giáo dục đại học tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển và hội nhập quốc tế.
Về tính cấp thiết, tác giả trình bày rằng sau 25 năm đổi mới, hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã đạt được những bước phát triển về quy mô mạng lưới, đa dạng hóa các loại hình nhà trường và hình thức đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập và cung cấp nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Tuy nhiên, giáo dục đại học Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức lớn: phương pháp quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học chậm đổi mới; chất lượng đào tạo nguồn nhân lực còn yếu kém kéo dài; đội ngũ giảng viên thiếu hụt và hạn chế về trình độ; kỷ cương học đường chưa nghiêm và công tác quản lý còn biểu hiện tùy tiện. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh giáo dục đại học chưa hoàn chỉnh, tản mạn và có hiệu lực pháp lý thấp. Nhiều nội dung cơ bản như tổ chức, đào tạo, nghiên cứu khoa học, tài chính, tài sản, hợp tác quốc tế, kiểm định và thanh tra chỉ được quy định ở các văn bản dưới luật (Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ, liên Bộ). Luật Giáo dục năm 2005 là luật khung với 9 chương, 120 điều nhưng chỉ dành 6 điều (từ Điều 38 đến Điều 47 thuộc Mục 4 Chương II) để quy định chung mang tính nguyên tắc cho giáo dục đại học. Nghị quyết số 50/2010/QH12 ngày 19/6/2010 của Quốc hội khóa XII đã khẳng định hệ thống pháp luật về giáo dục đại học chưa hoàn thiện, hướng dẫn thi hành chậm, chính sách thiếu đồng bộ, đặt ra đòi hỏi khách quan phải pháp điển hóa thành một văn bản luật chuyên ngành có giá trị pháp lý cao. Đồng thời, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 cũng yêu cầu xác định rõ cơ chế thống nhất quản lý nhà nước song song với việc tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định rõ: các đề tài trước đây chủ yếu tiếp cận giáo dục đại học dưới góc độ chính sách kinh tế - xã hội, tổ chức chuyên môn sư phạm hoặc quản lý nội bộ cơ sở đào tạo, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về hoàn thiện pháp luật giáo dục đại học dưới giác độ khoa học pháp lý lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Bản thân tác giả từng bảo vệ luận văn Thạc sĩ năm 2004 với đề tài "Hoàn thiện pháp luật về giáo dục ở Việt Nam hiện nay" nhưng chỉ dừng ở phạm vi pháp luật giáo dục chung. Do đó, đây là luận án tiến sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu trực diện và toàn diện vấn đề hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học.
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn để đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật về giáo dục đại học, từ đó xác định phương hướng và hệ thống các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam.
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Một là: Xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật giáo dục đại học và hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học; đề xuất các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học.
- Hai là: Phân tích, đánh giá các ưu điểm và hạn chế của pháp luật về giáo dục đại học trong thời gian qua.
- Ba là: Trên cơ sở lý luận đã được xây dựng, những đặc điểm và hạn chế của pháp luật giáo dục đại học Việt Nam đã được chỉ ra kết hợp với việc tham khảo pháp luật giáo dục đại học của một số nước trên thế giới để đề xuất những phương hướng và giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống pháp luật hiện hành về giáo dục đại học ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào thực trạng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh giáo dục đại học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ bản và toàn diện về quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo. Về thời gian, luận án khảo cứu tiến trình lập pháp từ năm 1945 đến nay, trong đó trọng tâm là giai đoạn từ năm 1998 (khi ban hành Luật Giáo dục đầu tiên) đến năm 2011; về không gian, nghiên cứu tập trung tại Việt Nam đồng thời mở rộng so sánh kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia đại diện các khu vực trên thế giới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình khoa học tiêu biểu theo các nhóm nội dung:
Nhóm nghiên cứu lịch sử phát triển, đường lối và cải cách tổ chức giáo dục: Cuốn sách Từ Bộ Quốc gia Giáo dục đến Bộ Giáo dục và Đào tạo (NXB Giáo dục, 1995) đánh giá thực trạng phát triển bộ máy và các chủ trương cải cách giáo dục từ năm 1945 đến 1995. Bài viết Ngành giáo dục đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) và triển khai Nghị quyết đại hội IX của GS. Nguyễn Minh Hiển (Tạp chí Cộng sản, 8/2002) và bài viết năm 2005 của cùng tác giả đề xuất các biện pháp ưu tiên đầu tư, đổi mới chế độ làm việc cho nhà giáo và phân cấp quản lý giáo dục. Các bài viết của GS.VS Phạm Minh Hạc (Tạp chí Khoa giáo, 1/2004 và Tạp chí Cộng sản, 9/2002) nhấn mạnh phát triển con người bền vững, điều chỉnh mạng lưới và gắn kết giáo dục với khoa học - công nghệ. Tác giả Vũ Oanh (Tạp chí Cộng sản, 3/2002) nghiên cứu mô hình xây dựng xã hội học tập. Tác giả Nguyễn Văn Thụy (Tạp chí Cộng sản, 12/2003) nghiên cứu chuẩn bị nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ (Tạp chí Khoa giáo, 1/2004) làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục.
Nhóm nghiên cứu chuyên môn, tuyển sinh và đổi mới giáo dục đại học: GS.TS Trần Văn Nhung (2003) nghiên cứu các giải pháp đổi mới giáo dục đại học theo yêu cầu quốc tế hóa. Tác giả Đào Công Tiến (Tạp chí Cộng sản, 5/2003) đề xuất đổi mới tuyển sinh và trao quyền chủ động cho các cơ sở đào tạo. Cuốn sách Giáo dục đại học Việt Nam của Vụ Giáo dục đại học – Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003) cung cấp thông tin tổng thể về hệ thống và chiến lược phát triển. Kỷ yếu Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế của Hội đồng Quốc gia Giáo dục Việt Nam (2004) tập hợp bài viết của chuyên gia UNESCO, Đức, Malaysia, Pháp, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc bàn về mối quan hệ giữa quy mô và chất lượng, phân cấp quản lý và tự chủ đại học. GS.TS Bành Tiến Long (2005) đề xuất đổi mới giáo dục đại học về mục tiêu, chương trình, mạng lưới và tài chính. Ấn phẩm Giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO của Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục (2005) cùng cuốn Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI (NXB Giáo dục, 2009) phân tích tác động của hội nhập và kinh tế tri thức đối với giáo dục đại học.
Nhóm nghiên cứu luật học và kinh nghiệm pháp luật nước ngoài: Sách chuyên khảo Hệ thống giáo dục và Luật giáo dục một số nước trên thế giới (2005) và Luật Giáo dục Đại học một số nước trên thế giới (2008) do Vụ Pháp chế – Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn, giới thiệu pháp luật của Trung Quốc, Hàn Quốc, Na Uy, Mỹ, Liên bang Nga. TS. Nguyễn Quốc Anh (Tạp chí Cộng sản, 4/2004) và học giả Xie Weihe (2005) nghiên cứu kinh nghiệm cải cách thể chế và cơ chế quản lý giáo dục đại học của Trung Quốc. GS. Gopinathan (2005) nghiên cứu chính sách tự chủ đại học và cạnh tranh tại Singapore. GS. Krissanapong Kirtikara (2005) phân tích lộ trình chuyển đổi đại học công lập sang cơ chế tự chủ ở Thái Lan.
Về các công trình pháp lý chuyên biệt: Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Kim Dung (2005) nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về giáo dục ở góc độ tổng quát cho toàn hệ thống. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đức Cường (2009) nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng. Bản thân nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Nhâm năm 2004 đã bảo vệ luận văn thạc sĩ về hoàn thiện pháp luật giáo dục nói chung.
| Nhóm công trình |
Tác giả / Cơ quan tiêu biểu |
Nội dung và trọng tâm nghiên cứu |
| Đường lối, chính sách và lịch sử giáo dục |
Bộ Giáo dục và Đào tạo (1995); GS. Nguyễn Minh Hiển (2002, 2005); GS.VS Phạm Minh Hạc (2002, 2004); Vũ Oanh (2002); PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ (2004) |
Đánh giá tổ chức bộ máy qua các thời kỳ; triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng; mục tiêu xây dựng xã hội học tập và đào tạo nhân lực. |
| Chuyên môn, đào tạo và đổi mới GDĐH |
GS.TS Trần Văn Nhung (2003); GS.TS Bành Tiến Long (2005); Đào Công Tiến (2003); Vụ GDĐH (2003); Hội đồng Quốc gia Giáo dục (2004) |
Đổi mới tuyển sinh; chương trình đào tạo; mở rộng quy mô gắn với chất lượng; giải pháp quản lý chuyên môn và tài chính giáo dục. |
| Pháp luật và kinh nghiệm quốc tế |
Vụ Pháp chế - Bộ GD&ĐT (2005, 2008); GS. Gopinathan (2005); GS. Krissanapong Kirtikara (2005); Xie Weihe (2005); TS. Nguyễn Quốc Anh (2004) |
Kinh nghiệm lập pháp giáo dục đại học tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Nga, Đức, Singapore, Thái Lan; mô hình quản trị và tự chủ. |
| Nghiên cứu pháp lý trong nước |
Lê Thị Kim Dung (2005); Nguyễn Đức Cường (2009); Nguyễn Đình Nhâm (2004) |
Hoàn thiện pháp luật giáo dục tổng thể; hoàn thiện pháp luật quản lý trường đại học, cao đẳng. |
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: Các công trình đi trước chưa xử lý mối quan hệ pháp lý giữa luật khung (Luật Giáo dục) và luật chuyên ngành (Luật Giáo dục đại học); chưa hệ thống hóa các tiêu chí xác định mức độ hoàn thiện pháp luật giáo dục đại học về cả hình thức và nội dung; chưa đề xuất một khung lập pháp hoàn chỉnh nhằm thể chế hóa toàn diện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội gắn với việc đổi mới căn bản phương thức quản lý nhà nước bằng pháp luật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng (pháp luật chịu sự quy định của quan hệ kinh tế nhưng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại cơ sở hạ tầng); tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển giáo dục; các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI, Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX) và Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị. Luận án vận dụng lý thuyết về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền tự do và quyền làm chủ của nhân dân.
Về mặt khái niệm, tác giả xác lập định nghĩa: "Pháp luật về giáo dục đại học là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động giáo dục đại học, bao gồm các quy định về tổ chức cơ sở giáo dục đại học; nhiệm vụ, quyền hạn, vị trí của giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân; các trình độ đào tạo, loại hình đào tạo và quy mô đào tạo của giáo dục đại học; các hoạt động về đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ; đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học; đầu tư cho giáo dục đại học, hợp tác quốc tế về giáo dục đại học." Quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học được xác định là quyền tự quản lý, tự điều hành và kiểm soát hoạt động của chính mình đi liền với trách nhiệm giải trình trước xã hội và cơ quan quản lý nhà nước.
Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuộc khoa học pháp lý, vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Nhìn nhận sự hình thành, phát triển của pháp luật giáo dục đại học trong mối quan hệ gắn liền với điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội qua các giai đoạn lịch sử của Việt Nam.
- Phương pháp xã hội học pháp luật: Khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về tổ chức, quản lý, cơ chế tài chính và tự chủ trong các cơ sở giáo dục đại học.
- Phương pháp thống kê: Thống kê số lượng, phân loại văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học theo từng giai đoạn và cơ quan ban hành để phân tích xu hướng và tốc độ lập pháp.
- Phương pháp hệ thống và phương pháp phân tích mô tả: Rà soát, phân tích cấu trúc bên trong của hệ thống pháp luật giáo dục đại học hiện hành, xác định mối quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành, giữa văn bản luật và văn bản dưới luật.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu pháp luật giáo dục đại học Việt Nam qua các thời kỳ (1945–1975, 1975–1998, 1998 đến nay) và so sánh với pháp luật giáo dục đại học của các quốc gia trên thế giới (Liên bang Nga, CHLB Đức, Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, Na Uy, Thái Lan, Singapore, Malaysia) về mô hình luật khung, luật chi tiết và quy chế tự chủ đại học.
Nguồn dữ liệu, tư liệu nghiên cứu gồm các văn kiện của Đảng; các văn bản pháp luật như Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Giáo dục năm 1998, Luật Giáo dục năm 2005, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009, Luật Dạy nghề năm 2006; 89 văn bản quy phạm pháp luật dưới luật từ năm 1998 đến năm 2011; các Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết số 35/2009/QH12 và Nghị quyết số 50/2010/QH12 của Quốc hội; các báo cáo tổng kết thực tiễn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các tài liệu dịch thuật pháp luật quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận về pháp luật giáo dục đại học và xác định các tiêu chí mức độ hoàn thiện hệ thống pháp luật này.
Tác giả phân tích các đặc điểm của pháp luật về giáo dục đại học:
- Thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo.
- Là hệ thống quy tắc xử sự có tính thống nhất nội tại cao, gắn liền với các quy phạm đạo đức và các ngành luật khác (hành chính, tài chính, lao động, dân sự).
- Gắn liền với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nhà nước về giáo dục, từng bước xóa bỏ bao cấp, mệnh lệnh hành chính sang phân cấp, tự chủ và loại trừ cơ chế "xin – cho".
- Thể hiện chính sách Hiến định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu".
- Thể hiện quyền tự chủ đồng thời gắn liền với tính chịu trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học (coi trường đại học như một "doanh nghiệp đặc biệt" tạo ra sản phẩm đặc biệt là nhân lực trình độ cao).
- Tạo hành lang pháp lý thực hiện chủ trương đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, được hệ thống cơ quan công quyền bảo đảm thực hiện.
Về nội dung, pháp luật giáo dục đại học gồm 10 nhóm lĩnh vực: (1) Các loại hình trường, điều kiện thành lập, cơ cấu tổ chức; (2) Hoạt động đào tạo; (3) Tuyển sinh và đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ; (4) Nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; (5) Kiểm định chất lượng giáo dục; (6) Quy chế đối với giảng viên, cán bộ, viên chức và người học; (7) Quản lý nhà nước về giáo dục đại học; (8) Quản lý tài chính cơ sở giáo dục đại học; (9) Hợp tác quốc tế; (10) Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật. Về hình thức, tác giả phân tích mối quan hệ giữa Luật Giáo dục đại học (luật chuyên ngành) với Luật Giáo dục (luật khung) và Luật Dạy nghề, khẳng định sự cần thiết phải xây dựng Luật Giáo dục đại học theo hướng là một luật tương đối chi tiết để khắc phục tình trạng văn bản dưới luật quá nhiều nhưng hiệu lực thấp.
Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, luận án khảo sát mô hình luật khung và luật chi tiết của CHLB Đức (Luật Khung giáo dục đại học 1999), Liên bang Nga, Malaysia (ban hành nhiều đạo luật chuyên biệt), Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Na Uy, Singapore và Thái Lan, rút ra bài học về phân quyền quản lý, cơ chế hội đồng trường, trách nhiệm giải trình và bảo đảm ngân sách.
Chương 2: Thực trạng giáo dục đại học và pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 đánh giá thực trạng phát triển hệ thống trường lớp, quy mô sinh viên và rà soát lịch sử lập pháp giáo dục đại học Việt Nam qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975: Giáo dục đại học phục vụ công cuộc kháng chiến và xây dựng miền Bắc, pháp luật chủ yếu là các sắc lệnh, nghị định đơn lẻ quy định việc thành lập các trường đại học chuyên ngành.
- Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1998: Thống nhất hệ thống giáo dục hai miền sau ngày giải phóng và bước vào những năm đầu Đổi mới, chuẩn bị cơ sở ban hành Luật Giáo dục năm 1998.
- Giai đoạn từ năm 1998 đến nay: Ban hành Luật Giáo dục 1998, Luật Giáo dục 2005, Luật Dạy nghề 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục 2009.
Đánh giá về hình thức pháp luật, tác giả sử dụng phương pháp thống kê chỉ ra rằng từ năm 1998 đến năm 2011, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành 89 văn bản quy định trực tiếp về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo giáo dục đại học:
| Giai đoạn ban hành |
Số lượng văn bản QPPL |
Tốc độ ban hành bình quân |
Đặc điểm lập pháp |
| 1998 – 2005 |
24 văn bản |
3 văn bản / năm |
Giai đoạn thực hiện Luật Giáo dục 1998; tốc độ ban hành chậm, chủ yếu điều chỉnh các vấn đề cơ bản ban đầu. |
| 2006 – 2009 |
31 văn bản |
7,8 văn bản / năm |
Tăng gấp hơn 2,5 lần giai đoạn trước; triển khai Luật Giáo dục 2005 và Đề án đổi mới giáo dục đại học (Nghị quyết 14/2005/NQ-CP). |
| 2010 – 2011 |
34 văn bản |
17 văn bản / năm |
Giai đoạn cao điểm thể chế hóa sau giám sát của Quốc hội (Nghị quyết số 50/2010/QH12) và Luật sửa đổi 2009. |
| Tổng cộng (1998–2011) |
89 văn bản |
— |
Hệ thống văn bản đồ sộ nhưng chủ yếu là văn bản dưới luật. |
Về nội dung, tác giả chỉ rõ các bất cập: Quy định về điều kiện thành lập trường, mở ngành còn lỏng lẻo dẫn đến phát triển nóng; quy định thẩm quyền giữa cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo), bộ chủ quản và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh còn chồng chéo; quyền tự chủ của các trường về tài chính, học phí, nhân sự và tổ chức bộ máy còn bị hạn chế bởi cơ chế chủ quản; công tác kiểm định chất lượng chưa trở thành chế tài bắt buộc gắn với cấp ngân sách; chính sách ưu đãi đầu tư và xã hội hóa chưa đủ cụ thể. Nguyên nhân chủ yếu là do tư duy quản lý bao cấp chậm chuyển biến, thiếu quy hoạch đồng bộ và chưa có một đạo luật chuyên ngành có giá trị pháp lý cao để điều chỉnh thống nhất.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 luận giải sự cần thiết hoàn thiện pháp luật xuất phát từ 4 đòi hỏi khách quan: Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật; cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học; hội nhập quốc tế.
Tác giả đề xuất 4 phương hướng hoàn thiện:
- Thể chế hóa các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục đại học.
- Cụ thể hóa và phát triển các quy định về giáo dục đại học trong Luật Giáo dục hiện hành.
- Bảo đảm pháp luật về giáo dục đại học phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.
- Đáp ứng nhu cầu thực tiễn tổ chức và hoạt động giáo dục đại học trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
Về hệ thống giải pháp, tác giả phân chia thành 3 nhóm lớn:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện hình thức pháp luật: Thực hiện pháp điển hóa, rà soát, loại bỏ các văn bản chồng chéo, nâng cao hiệu lực pháp lý của quy phạm điều chỉnh giáo dục đại học.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện nội dung pháp luật: Sửa đổi, bổ sung quy định về phân cấp quản lý nhà nước, từng bước xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản; quy định rõ ràng quyền tự chủ học thuật, tự chủ nhân sự (thẩm quyền bổ nhiệm của hiệu trưởng, tiêu chuẩn giảng viên) và tự chủ tài chính gắn với trách nhiệm giải trình; hoàn thiện quy chế pháp lý về kiểm định chất lượng giáo dục định kỳ, công khai kết quả kiểm định để xã hội giám sát; hoàn thiện khung pháp lý về hợp tác quốc tế (liên kết đào tạo, cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài).
- Nhóm giải pháp xây dựng Luật Giáo dục đại học: Luận án xác định các nguyên tắc, quy trình soạn thảo và xây dựng Đề cương Luật Giáo dục đại học. Đề cương được thiết kế trên nguyên tắc: những nội dung thực tiễn đã kiểm nghiệm ổn định thì luật hóa chi tiết; những vấn đề đang trong quá trình thử nghiệm, vận động nhanh thì quy định nguyên tắc và giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các điểm mới và đóng góp khoa học chủ yếu sau:
- Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ một cách toàn diện những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật giáo dục đại học, xác lập định nghĩa khoa học về pháp luật giáo dục đại học; chỉ rõ 6 đặc điểm bản chất của pháp luật giáo dục đại học trong thời kỳ chuyển đổi và xây dựng Nhà nước pháp quyền; xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật giáo dục đại học về cả hình thức (tính đồng bộ, thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý) và nội dung (tính toàn diện, khả thi, minh bạch).
- Về mặt thực tiễn: Khái quát, hệ thống hóa và phân tích tiến trình lập pháp điều chỉnh giáo dục đại học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2011 qua 3 giai đoạn cụ thể; thống kê và phân loại 89 văn bản quy phạm pháp luật dưới luật giai đoạn 1998–2011 để chỉ ra khiếm khuyết cơ bản về cấu trúc hình thức và lỗ hổng nội dung (tình trạng phân tán, hiệu lực pháp lý thấp, mâu thuẫn giữa luật khung và văn bản hướng dẫn).
- Về mặt lập pháp và giải pháp: Tổng hợp có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế của các nước phát triển và các nước trong khu vực có điều kiện tương đồng; đề xuất 4 phương hướng và 3 nhóm giải pháp đồng bộ, trong đó đóng góp mang tính thực tiễn trực tiếp là đề xuất xây dựng dự thảo Luật Giáo dục đại học với các nguyên tắc, quy trình và Đề cương chi tiết nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật, nâng cao quyền tự chủ và chất lượng giáo dục đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án cho thấy nghiên cứu được triển khai tập trung chủ yếu dưới giác độ khoa học pháp lý lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, do đó các phân tích về cơ chế quản trị tài chính vi mô, chương trình sư phạm chuyên sâu hoặc phân tích kinh tế lượng về giáo dục không nằm trong trọng tâm của đề tài. Đồng thời, nguồn dữ liệu và thực trạng văn bản quy phạm pháp luật trong luận án được khảo sát chi tiết đến mốc thời gian năm 2011 – giai đoạn Quốc hội đang chuẩn bị xem xét ban hành Luật Giáo dục đại học chuyên ngành đầu tiên.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định dựa trên phạm vi nghiên cứu của tác giả: Tiếp tục theo dõi quá trình áp dụng Luật Giáo dục đại học sau khi được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành; nghiên cứu đánh giá hiệu quả thực tế của việc thực hiện quyền tự chủ đại học, việc xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, cũng như đánh giá tác động của các quy định pháp luật về kiểm định chất lượng và hội nhập quốc tế đối với hệ thống giáo dục đại học Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều nhóm chủ thể:
- Đối với cơ quan ban hành chính sách và lập pháp (Quốc hội, Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp): Luận án cung cấp các luận cứ lý luận và thực tiễn vững chắc, cùng khung đề cương chi tiết phục vụ cho công tác soạn thảo, thẩm định và hoàn thiện Luật Giáo dục đại học và các văn bản quy định chi tiết thi hành.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Hỗ trợ cán bộ quản lý tại các Bộ, ngành chủ quản và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính lãnh thổ và quản lý nhà nước chuyên ngành, từng bước chuyển dịch phương thức điều hành từ mệnh lệnh hành chính sang quản lý bằng pháp luật.
- Đối với các cơ sở giáo dục đại học (đại học, trường đại học, học viện, trường cao đẳng): Luận án là tài liệu tham khảo quan trọng giúp lãnh đạo nhà trường, giảng viên nhận thức rõ quyền tự chủ, trách nhiệm xã hội, quy chế pháp lý về tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính và kiểm định chất lượng.
- Đối với các viện nghiên cứu, trường đại học, giảng viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp nguồn tư liệu có hệ thống về lịch sử lập pháp giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2011, phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu các chuyên đề về Lý luận Nhà nước và pháp luật, Luật Hành chính và Luật Giáo dục.
Câu hỏi thường gặp
1. Thẩm quyền thành lập trường đại học và cho phép hoạt động giáo dục đại học được pháp luật hiện hành quy định như thế nào theo phân tích của luận án?
Theo quy định được tác giả phân tích tại Chương 1, thẩm quyền thành lập trường đại học thuộc Thủ tướng Chính phủ, trong khi thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục đối với trường đại học thuộc Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đối với trường cao đẳng, cả thẩm quyền thành lập và thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục đều thuộc Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Thực trạng số lượng văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh giáo dục đại học từ năm 1998 đến năm 2011 được luận án thống kê như thế nào?
Theo số liệu thống kê của tác giả tại Chương 1 và Chương 2, trong giai đoạn 1998–2011 có tất cả 89 văn bản quy phạm pháp luật quy định trực tiếp về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo trong giáo dục đại học. Trong đó: giai đoạn 1998–2005 ban hành 24 văn bản (bình quân 3 văn bản/năm); giai đoạn 2006–2009 ban hành 31 văn bản (bình quân 7,8 văn bản/năm); giai đoạn 2010–2011 ban hành 34 văn bản.
3. Theo tác giả luận án, khiếm khuyết lớn nhất của Luật Giáo dục năm 2005 đối với giáo dục đại học là gì?
Tác giả chỉ rõ Luật Giáo dục năm 2005 là một luật khung, gồm 9 chương và 120 điều nhưng chỉ có 6 điều (Mục 4 Chương II, từ Điều 38 đến Điều 47) quy định về giáo dục đại học. Các quy định này chỉ mang tính nguyên tắc chung, chưa điều chỉnh cụ thể và riêng biệt các quan hệ xã hội phức tạp của giáo dục đại học (như cơ chế tự chủ, tài chính, kiểm định chất lượng, mô hình quản trị), khiến các hoạt động quan trọng đều phải điều chỉnh bằng văn bản dưới luật.
4. Mối quan hệ giữa Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục hiện hành được luận án xác định theo nguyên tắc nào?
Luận án xác định mối quan hệ giữa Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục là mối quan hệ giữa luật chuyên ngành và luật khung. Theo đó, Luật Giáo dục đại học bổ sung mà không lặp lại những quy định đã có; những nội dung trong Luật Giáo dục còn ở mức độ khung sẽ được quy định cụ thể tại Luật Giáo dục đại học; các nội dung đã quy định chi tiết tại Luật Giáo dục thì dẫn chiếu thực hiện; những điểm không còn phù hợp sẽ được sửa đổi, bổ sung thay thế.
5. Đề cương Luật Giáo dục đại học do luận án đề xuất được xây dựng dựa trên nguyên tắc phân định nội dung nào?
Đề cương Luật Giáo dục đại học do luận án đề xuất tại Chương 3 được xây dựng dựa trên nguyên tắc: Các nội dung đã được thực tế kiểm nghiệm, thực hiện ổn định sẽ được luật hóa thành quy định chi tiết, cụ thể của đạo luật; các nội dung chưa thực sự ổn định, còn có nhiều thay đổi trong thực tiễn sẽ được quy định ở dạng nguyên tắc và giao cho các văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Đình Nhâm là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống đầu tiên về lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật giáo dục đại học tại Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp so sánh luật học và thống kê pháp lý, luận án đã làm rõ các đặc trưng bản chất của pháp luật giáo dục đại học, rà soát 89 văn bản quy phạm pháp luật dưới luật giai đoạn 1998–2011 để chỉ ra những bất cập, mâu thuẫn của hệ thống văn bản hiện hành. Trên cơ sở đó, tác giả đã luận chứng 4 phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp khoa học, trọng tâm là xây dựng Đề cương Luật Giáo dục đại học nhằm thể chế hóa đường lối của Đảng, tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật và mở rộng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.