CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ TRONG VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. Khái quát chung về môi trường và trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp 1. Khái niệm về môi trường và tình hình chung về môi trường hiện nay MT theo định nghĩa thông thường “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”; là “sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ”2. Trong khoa học pháp lý, pháp luật mỗi quốc gia hiện nay đều có quy định riêng về khái niệm MT.
Theo Luật BVMT năm 1990 của Anh định nghĩa, “MT bao gồm tất cả , hoặc bất kỳ các yếu tố sau: không khí, nước và đất liền; và MT không khí bao gồm không khí trong các tòa nhà và không khí trong các công trình tự nhiên hoặc nhân tạo khác ở trên hoặc dưới mặt đất3. Theo Luật BVMT năm 1986 của New Zealand định nghĩa MT bao gồm “a) các hệ sinh thái và các bộ phận cấu thành của chúng; b) tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và vật chất; c) các điều kiện xã hội, kinh tế, thẩm mỹ và văn hóa ảnh hưởng đến MT hoặc bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của MT”. Cách tiếp cận pháp lý đối với “MT” là tách các quy định thành các nhóm rộng, Salter đã đề xuất ba nhóm: thứ nhất, nhóm MT “tự nhiên” bao gồm bảo vệ các yếu tố MT; nhóm thứ hai là MT “nhân tạo” bao gồm di sản văn hóa; nhóm thứ ba liên quan đến MT "con người" bao gồm các quy định về nội dung thực phẩm, sản phẩm, các vấn đề an toàn, giải trí và sức khỏe kinh tế (bảo vệ người tiêu dùng, dán nhãn sinh thái,…)4. 2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật môi trường, Nxb.
Công An Nhân Dân, Hà Nội, tr. 3 Part 1, Section 1(2), Luật Bảo vệ môi trường 1990 của Anh. 4 Marie-Louise Larsson, “Legal Definition of the Environment and Environmental Damage”, Stockholm Institute for Scandianvian Law, 1957-2009, tr. 7 Tại Việt Nam, định nghĩa MT trong pháp lý được quy định tại khoản 1 điều 3 Luật BVMT 2020 như sau: “MT bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”.
Dù là khái niệm MT được nêu trong Luật BVMT 2020 mới được Quốc Hội thông qua hay Luật BVMT 2014 đang có hiệu lực thì khái niệm “MT” đều được tiếp cận dưới khía cạnh giống nhau dù cách diễn đạt có đôi chút khác biệt. MT trong pháp lý tại Việt Nam được đặt trong mối liên hệ với con người, trong đó con người được đặt ở vị trí trung tâm và MT được hiểu là những yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người. Tuy nhiên, hiện nay trên phạm vi toàn cầu MT đang có sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi qua một số biểu hiện như: sự thay đổi khí hậu toàn cầu dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau như rừng bị tàn phá, sự gia tăng của chất thải,…; sự suy giảm của tầng ozon – vỏ bọc của trái đất ngăn không cho tia cực tím xâm nhập trái đất gây tác hại cho con người và các hệ sinh thái, ngăn không cho bầu khí quyển xung quang trái đất bị nóng lên do mặt trời; sự gia tăng chất thải do sự gia tăng dân số, sự gia tăng nhu cầu sản xuất tiêu dùng;…5 Chính những thay đổi theo chiều hướng xấu đi này của MT dẫn đến vấn đề ÔNMT, suy thoái MT. Dưới góc độ pháp lý, “ÔNMT là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần MT không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật MT, tiêu chuẩn MT gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên.
Qua đó ta thấy được định nghĩa trên đề cập đến sự biến đổi của các thành phần MT7 theo chiều hướng xấu đi, gây tác hại cho con người và sinh vật. Nguyên nhân chủ yếu là do các chất gây ô nhiễm, thông thường là chất thải. Về suy thái MT được định nghĩa là “sự suy giảm về chất lượng, số lượng của thành phần MT, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự 5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật môi trường, Nxb. Công An Nhân Dân, Hà Nội, tr.
6 Khoản 12 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020. 7 “Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, sinh vật, âm thanh, ánh sáng và các hình thái vật chất khác” – Khoản 3 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020. Số lượng và chất lượng các thành phần MT có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do hành vi khai thác quá mức các yếu tố MT, làm hủy hoại các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sử dụng phương tiện, công cụ, phương pháp hủy diệt trong khai thác, đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật… Một trong những chủ thể gây nên những vấn đề MT chính là các doanh nghiệp do sự thiếu trách nhiệm trong quá trình sản xuất, kinh doanh9. Do nhiều doanh nghiệp hiện nay chỉ chú trọng vào việc tối đa hóa lợi nhuận, mang về càng nhiều lợi ích vật chất cho cổ đông mà không xem trọng các vấn đề MT, dẫn đến việc trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp đã gây ra không ít những hậu quả xấu cho MT.
Vì vậy, hiện nay trách nhiệm BVMT của doanh nghiệp là vô cùng cần thiết. Các lý thuyết nền tảng cho trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp Chính vì tình trạng ÔNMT như trình bày bên trên dẫn đến hiện nay rất cần thiết đặt ra trách nhiệm BVMT của doanh nghiệp. Mặc dù vấn đề BVMT những năm gần đây mới “nóng” trở lại và trở thành một trong những vấn đề cấp thiết, đáng được quan tâm nhưng từ những năm đầu thế kỷ XX, những lý thuyết nền tảng cho vấn đề trách nhiệm BVMT của doanh nghiệp đã được các học giả nghiên cứu, phát triển và sẽ được tác giả trình bày dưới đây. Lý thuyết về “lợi ích của các bên liên quan” trong quản trị công ty Lý thuyết về “Lợi ích của các bên liên quan” – “Stakeholder Theory” trong quản trị công ty được phát triển bởi R Edward Freeman từ năm 1984.
Lý thuyết này là quan điểm của chủ nghĩa tư bản nhấn mạnh các mối quan hệ kết nối giữa một doanh nghiệp và khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên, nhà đầu tư, cộng đồng và những người khác có 8 Khoản 13 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020. 9 Thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam, <http://trungtammoitruong.vn/thuc-trang-o-nhiem-moi-truong-o- viet-nam.html>, tham khảo ngày 15/01/2021. 9 cổ phần trong tổ chức. Theo Freeman, bản chất của kinh doanh chủ yếu nằm ở việc xây dựng mối quan hệ và tạo ra giá trị cho tất cả các bên liên quan10.
Trước khi lý thuyết về “lợi ích của các bên liên quan” ra đời, các doanh nghiệp áp dụng Lý thuyết cổ đông – “Shareholder Theory” vào quản trị công ty. Lý thuyết cổ đông được phát triển bởi Milton Friedman, nhà kinh tế học có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ XX, xuất phát từ ý tưởng rằng mục tiêu chính của một công ty là tối đa hóa lợi nhuận của mình để đem lại nhiều tiền và lợi ích nhất cho cổ đông, thay vì tập trung vào việc đem lại các giá trị có ích cho xã hội. Hay có thể nói rằng, doanh nghiệp chỉ tồn tại để mang lợi ích cho các cổ đông qua việc giành toàn bộ nguồn lực để gia tăng tỷ suất hoàn vốn (Return on Investment) cho cổ đông. Vào những năm 1970-1980, Lý thuyết cổ đông được áp dụng rất phổ biến tại các doanh nghiệp bởi tại thời điểm đó là giai đoạn kinh tế phục hồi sau chiến tranh, nên tốc độ tăng trưởng và lợi nhuận của công ty cần được ưu tiên11.
Nhưng trong những năm gần đây, quan điểm của Milton Friedman bị phản bác mạnh mẽ bởi các học giả ngày càng quan tâm đến đạo đức kinh doanh bên cạnh việc tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp, dẫn đến sự ra đời và phát triển của Lý thuyết về “lợi ích của các bên liên quan”. Để hiểu rõ hơn Lý thuyết về “lợi ích của các bên liên quan” cần phải hiểu được “các bên liên quan” – “stakeholder” ở đây là các bên nào? Theo cách hiểu hẹp và truyền thống thì các bên liên quan là những nhà đầu tư, người lao động, nhà cung cấp, khách hàng liên quan đến việc tối đa hóa giá trị cho công ty và hoàn trả lợi nhuận cho cổ đông12. Theo cách hiểu rộng hơn, được đưa ra bởi Freeman, các bên liên quan là “bất kỳ cá nhân hoặc nhóm có thể tác động hoặc bị tác động bởi việc thực hiện hóa mục tiêu của tổ 10 R. Dmytriyev (2017), “Corporate Social Responsibility and Stakeholder Theory: Learning From Each Other”, Symphonya.
Emerging Issues in Management (symphonya. 11 Stakeholder and Shareholder Theory: Cuộc cách mạng trong đạo đức kinh doanh, <https://www.org/new- blog-1/stakeholder-and-shareholder-theory-cuc-cch-mng-trong-o-c-kinh-doanh>, tham khảo ngày 16/01/2021. 12 Shelley Marshall và Ian Ramsay (2012), “Stakeholders and Directors’ duties: Law, theory and evidence”, UNSW Law Journal, tr. Lý thuyết này trái ngược với Lý thuyết cổ đông, trong khi Lý thuyết cổ đông chỉ tập trung tối đa hóa lợi ích của các cổ đông trong công ty, Lý thuyết về “lợi ích của các bên liên quan” cho rằng doanh nghiệp không chỉ nên tập trung vào mục đích tạo ra lợi ích cho cổ đông, đặt lợi ích của cổ đông lên hàng đầu mà còn nên quan tâm đến lợi ích của những nhóm đối tượng khác có liên quan đến doanh nghiệp, được gọi là các bên liên quan.
Dựa vào khái niệm về “các bên liên quan” được đưa ra bởi Freeman, MT theo tác giả cũng được coi là một trong các bên liên quan bởi trong quá trình doanh nghiệp thực hiện công việc cho mục đích sản xuất, kinh doanh thì doanh nghiệp đã tác động vào MT. Theo như Lý thuyết về “lợi ích của các bên liên quan”, doanh nghiệp nên quan tâm đến lợi ích của các bên liên quan song song với lợi ích của các cổ đông trong công ty, vì vậy MT là một trong những yếu tố mà doanh nghiệp cần xem xét cùng với lợi ích của cổ đông và các bên liên quan khác trong quá trình thực hiện mục đích sản xuất, kinh doanh.