Luận văn thạc sĩ: Hoàn thiện pháp luật về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích hoàn thiện pháp luật về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp, phù hợp với cam kết quốc tế của Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

117
8
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ M&A

1.1. Định nghĩa theo quy định pháp luật của một số nước

1.2. Định nghĩa của một số từ điển và chuyên gia

1.3. Định nghĩa của Việt Nam. Phân biệt sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

1.4. Đặc điểm hoạt động M&A

1.5. Dựa trên mối quan hệ giữa các doanh nghiệp thực hiện M&A

1.6. Phân loại dựa trên cơ cấu tài chính

1.7. Các phương thức M&A

1.7.1. Phương thức chào thầu

1.7.2. Phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn

1.7.3. Phương thức thương lượng giữa các ban quản trị

1.7.4. Phương thức thu gom cổ phiếu

1.7.5. Phương thức mua lại tài sản công ty

1.8. Động cơ thực hiện M&A

1.8.1. Thâm nhập vào thị trường

1.8.2. Giảm chi phí gia nhập thị trường

1.8.3. Chiếm hữu tri thức và tài sản con người

1.8.4. Giảm bớt đối thủ cạnh tranh trên thị trường

1.8.5. Giảm thiểu chi phí và nâng cao hiệu quả

1.8.6. Đa dạng hóa và bành trướng thị trường

1.8.7. Đa dạng hóa sản phẩm và chiến lược thương hiệu

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG M&A

2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về M&A

2.2. Nhận định chung

2.3. Quy định về M&A trong một số ngành luật cụ thể

2.4. Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến M&A

2.4.1. Cam kết trong GATS/ WTO

2.4.2. Cam kết trong khu vực ASEAN

2.4.3. Các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư

2.4.4. Các cam kết quốc tế về đầu tư song phương có yếu tố tự do hoá liên quan đến M&A

2.4.5. Hiệp định thương mại tự do có cam kết về đầu tư

2.5. Quy định về M&A của một số nước trên thế giới

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG M&A TẠI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ M&A

3.1. Thực tiễn hoạt động M&A tại Việt Nam

3.2. Một số số liệu thống kê

3.3. Đặc điểm hoạt động M&A tại Việt Nam

3.4. Thực tiễn quản lý nhà nước về M&A

3.5. Một số vụ M&A điển hình tại Việt Nam

3.6. Một số vướng mắc đối với hoạt động M&A xuất phát từ quy định trong nước và cam kết quốc tế

3.6.1. Về việc áp dụng trực tiếp các cam kết WTO

3.6.2. Thiếu hành lang pháp lý về M&A

3.6.3. Vướng mắc do quy định chồng chéo trong các văn bản quy phạm pháp luật

3.6.4. Vướng mắc giữa cam kết WTO với Luật Đầu tư, Luật doanh nghiệp

3.6.5. Vướng mắc theo quy định của Luật cạnh tranh

3.6.6. Vướng mắc trong việc định giá doanh nghiệp

3.6.7. Vướng mắc khi thực hiện M&A trong lĩnh vực ngân hàng

3.6.8. Vướng mắc trong lĩnh vực lao động

3.7. Một số đề xuất đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam về M&A để phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên

3.7.1. Mục tiêu và các nguyên tắc định hướng chính sách

3.7.2. Những kiến nghị về xây dựng pháp luật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoàn thiện pháp luật M A tại Việt Nam

Hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A) đang trở thành một phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Với sự gia tăng đầu tư nước ngoài, việc hoàn thiện pháp luật về M&A là cần thiết để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong các giao dịch. Các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về quy định pháp lý trong lĩnh vực này.

1.1. Định nghĩa và khái niệm về M A tại Việt Nam

M&A được hiểu là sự kết hợp hoặc mua lại giữa các doanh nghiệp. Tại Việt Nam, khái niệm này được quy định trong nhiều văn bản pháp luật, nhưng vẫn còn thiếu sự đồng bộ và rõ ràng. Việc hiểu đúng về M&A sẽ giúp các doanh nghiệp và nhà đầu tư có cái nhìn chính xác hơn về quy trình và các quy định liên quan.

1.2. Tình hình thực tế của M A tại Việt Nam

Thực tế cho thấy, hoạt động M&A tại Việt Nam đang trên đà phát triển nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn. Các doanh nghiệp thường gặp phải rào cản về pháp lý và thiếu thông tin. Điều này ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và sự phát triển bền vững của thị trường M&A.

II. Vấn đề và thách thức trong pháp luật về M A tại Việt Nam

Mặc dù có nhiều quy định pháp luật liên quan đến M&A, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức. Các quy định hiện hành chưa đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch. Hơn nữa, sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật cũng gây khó khăn trong việc thực thi.

2.1. Những vướng mắc trong quy định pháp lý về M A

Nhiều quy định pháp lý hiện hành còn thiếu tính cụ thể và rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng không đồng nhất. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện các giao dịch M&A một cách hợp pháp và hiệu quả.

2.2. Tác động của cam kết quốc tế đến M A tại Việt Nam

Các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, như WTO, đã tạo ra áp lực lớn trong việc hoàn thiện pháp luật về M&A. Tuy nhiên, việc thực hiện các cam kết này vẫn gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt trong quy định pháp luật giữa các quốc gia.

III. Phương pháp hoàn thiện pháp luật về M A tại Việt Nam

Để hoàn thiện pháp luật về M&A, cần có những phương pháp cụ thể và hiệu quả. Việc xây dựng một hành lang pháp lý rõ ràng và đồng bộ sẽ giúp tăng cường sự minh bạch và thu hút đầu tư nước ngoài.

3.1. Đề xuất xây dựng hành lang pháp lý cho M A

Cần thiết phải xây dựng một hành lang pháp lý rõ ràng cho hoạt động M&A, bao gồm các quy định cụ thể về quy trình, thủ tục và quyền lợi của các bên tham gia. Điều này sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và tăng cường sự tin tưởng của nhà đầu tư.

3.2. Tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức về M A

Đào tạo và nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư về quy trình và quy định liên quan đến M&A là rất quan trọng. Điều này sẽ giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các giao dịch.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về M A tại Việt Nam

Nghiên cứu thực tiễn về M&A tại Việt Nam cho thấy nhiều doanh nghiệp đã thành công trong việc thực hiện các giao dịch M&A. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường.

4.1. Một số vụ M A điển hình tại Việt Nam

Có nhiều vụ M&A thành công tại Việt Nam, như việc mua lại các công ty lớn trong ngành ngân hàng và bất động sản. Những vụ này không chỉ mang lại lợi ích cho các bên tham gia mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

4.2. Đánh giá tác động của M A đến nền kinh tế Việt Nam

M&A có tác động tích cực đến nền kinh tế Việt Nam, giúp tăng cường sức cạnh tranh và thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cần có những biện pháp để đảm bảo rằng các giao dịch này không gây ra những tác động tiêu cực đến thị trường.

V. Kết luận và tương lai của pháp luật về M A tại Việt Nam

Việc hoàn thiện pháp luật về M&A tại Việt Nam là một quá trình cần thiết và cấp bách. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp để xây dựng một môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động M&A.

5.1. Tương lai của M A tại Việt Nam

Với sự phát triển của nền kinh tế và hội nhập quốc tế, hoạt động M&A tại Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng. Tuy nhiên, cần có những quy định pháp lý phù hợp để đảm bảo sự phát triển bền vững.

5.2. Đề xuất hướng đi cho pháp luật về M A

Cần có những đề xuất cụ thể để hoàn thiện pháp luật về M&A, bao gồm việc xây dựng các quy định rõ ràng và đồng bộ, cũng như tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls hoàn thiện pháp luật về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ma phù hợp với các cam kết quốc tế của việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ M&A 1. Khái niệm M&A Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, hoạt động M&A ngày càng trở nên phổ biến. Các hoạt động M&A được tiến hành dưới nhiều cách thức và mục đích khác nhau. M&A là hoạt động kinh tế tăng trưởng mạnh từ lâu nay trên thế giới.

Ở Việt Nam, hoạt động này bắt đầu chưa lâu song ngày càng sôi động và hứa hẹn một sự bùng nổ trong thời gian tới. M&A, được viết tắt bởi hai từ tiếng Anh: Mergers and Acquisitions được dịch là “sáp nhập và mua lại” hoặc “sáp nhập và thâu tóm”. Đây là thuật ngữ để chỉ sự mua bán, sáp nhập, hợp nhất, mua cổ phần, mua tài sản giữa hai hay nhiều công ty với nhau. Các vụ sáp nhập, mua lại hiện nay đã trở thành một hình thức đầu tư thông dụng của các công ty muốn bảo vệ, củng cố và thúc đẩy vị trí của mình bằng cách sáp nhập, mua lại công ty khác từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh của mình.

Các nhà đầu tư nước ngoài cũng thường lựa chọn hình thức M&A thực hiện việc đầu tư tại các nước nhằm tránh các thủ tục thành lập doanh nghiệp của nước đó. Mặc dù thuật ngữ “M&A” được sử dụng rất thông dụng ở nhiều nước trên thế giới nhưng các nước chưa có sự thống nhất một định nghĩa pháp lý chung đối với thuật ngữ này. Ở mỗi nước, có một hệ thống pháp luật khác nhau, một cách hiểu khác nhau về M&A. Sau đây, tác giả xin trình bày một số khái niệm về M&A ở một số quốc gia, một số nhà khoa học và khái niệm M&A trong các quy định của Việt Nam.

12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Định nghĩa theo quy định pháp luật của một số nước 1. Hoa kỳ Hoa Kỳ là quốc gia Liên bang nên tồn tại hai hệ thống pháp luật là pháp luật liên bang và pháp luật của từng bang. Do đó, hoạt động M&A chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật là pháp luật liên bang và pháp luật của từng bang.

Theo pháp luật liên bang, sáp nhập có nghĩa là sự kết hợp giữa hai công ty mà một bên hoàn toàn bị thâu tóm bởi công ty kia. Công ty kém quan trọng hơn sẽ mất đi đặc điểm nhận diện của mình và trở thành một phần của công ty quan trọng hơn nơi vẫn giữ được đặc điểm nhận diện của mình. Hoạt động sáp nhập làm lu mờ công ty bị sáp nhập và công ty được sáp nhập sẽ nắm giữ các quyền, lợi ích và trách nhiệm của công ty bị sáp nhập. Một hoạt động sáp nhập không giống với hoạt động hợp nhất mà hai công ty cùng bị mất đi những đặc điểm nhận dạng của mình và tạo nên một hình thức công ty hoàn toàn mới.

Pháp luật của liên bang và của từng bang đều điều chỉnh hoạt động M&A nhằm hạn chế hoạt động sáp nhập có thể triệt tiêu cạnh tranh giữa các công ty sáp nhập. Luật Chống Tập trung kinh tế (Anti-Trust Act) (hay còn gọi là Luật Chống Tờ Rớt) giới hạn các giao dịch có thể tạo mà không khuyến khích sự cạnh tranh. Luật Chống Tập trung kinh tế của Liên bang bao gồm Luật Chống Tập trung kinh tế Sherman (Sherman Anti-Trust Act) được ban hành vào năm 1890, Luật Clayton 1914 đã bổ sung Luâ ̣t Sherman thêm bố n hành vi : cấ m phân biê ̣t đố i xử về giá , cấ m ký kế t hơ ̣p đồ ng mang tính đô ̣c quyề n hoă ̣c có nô ̣i dung ràng buô ̣c; cấ m viê ̣c chiế m vố n giữa các công ty; cấ m kiêm nhiê ̣m chức vu ̣ ) giữa công ty. Vì Hoa Kỳ theo hệ thống luật án lệ nên việc áp dụng những quy định pháp luật này còn được điều chỉnh bằng những giải thích của tòa án.

13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Cộng đồng chung Châu Âu Cộng đồng Châu Âu đã có một định nghĩa cụ thể về sáp nhập và mua lại tại Quy định về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu số 139/2004 ngày 20/01/2004 (EC Merger Regulation) như sau: (i) sự sáp nhập giữa hai pháp nhân độc lập hoặc hai bộ phận của hai pháp nhân; hoặc (ii) thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc mua lại chứng khoán hoặc tài sản của một công ty khác; (iii) hoặc tạo ra một liên doanh mới. Quy định về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu đã đưa ra cách tính về doanh số, thủ tục cần thiết để tiến hành việc sáp nhập và mua lại một cách cụ thể. Mặc dù hệ thống pháp luật của từng quốc gia thuộc thành viên của Cộng đồng chung Châu Âu là khác nhau, nhưng Quy chế về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu được áp dụng chung và là văn bản có hiệu lực điều chỉnh cao hơn pháp luật của từng quốc gia phê chuẩn. Singapore Hoạt động sáp nhập mua lại tại Singapore được điều chỉnh bằng Luật Cạnh tranh Singapore 2004 (Competition Act) [12].

Luật này được đánh giá là học tập mô hình các quy định pháp lý về cạnh tranh của Cộng đồng Châu Âu và Luật Cạnh tranh của Anh Quốc 1998. Theo Luật Cạnh tranh của Singapore, hoạt động sáp nhập xảy ra khi: (a) có từ hai pháp nhân độc lập trở lên sáp nhập với nhau; (b) một hoặc nhiều thực thể hoặc các pháp nhân thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hay toàn bộ một hoặc nhiều pháp nhân khác; hoặc (c) một pháp nhân thâu tóm tài sản (bao gồm các quyền về tài sản) của pháp nhân khác (hoặc bộ phận cấu thành của pháp nhân đó) với mục đích pháp nhân đầu tiên được đặt tại vị trí thay thế toàn bộ hoặc gần như thay thế pháp nhân thứ hai trong kinh doanh tại những công việc đã được giao kết trước khi thâu tóm [12]. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mô hình liên doanh cũng nằm trong phạm vi khái niệm của sáp nhập theo Luật Cạnh tranh Singapore [12]. Canada Theo Điều 91 Luật Cạnh tranh Canada (Bản sửa đổi bổ sung năm 1985), sáp nhập được hiểu là việc mua hoặc thiết lập, trực tiếp hay gián tiếp, bởi một hay nhiều người, bằng cách mua hay thuê mua cổ phần hoặc tài sản, sự kiểm soát đối với toàn bộ hay một phần của hoạt động kinh doanh của một đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách hàng hoặc một người nào khác bằng cách kết hợp hay liên kết hoặc hình thức khác [17].

Trung Quốc Khái niệm “sáp nhập” (merger) được điều chỉnh tại Luật Công ty của Trung Quốc. Sáp nhập được hiểu là các hoạt động mua lại một phần tài sản hoặc vốn của một công ty khác nhưng không bao gồm các hình thức tập trung kinh tế như mua lại, liên doanh, đối tác chiến lược, thỏa thuận liên kết… Khái niệm “sáp nhập” của Trung Quốc hoàn toàn không nằm trong phạm vi khái niệm “sáp nhập và mua lại” (M&A) của Hoa kỳ. Tại Điều 20(3) của Luật Cạnh tranh Không Bình đẳng (Unfair Competition Law) quy định tập trung kinh tế chỉ xuất hiện khi “một đơn vị kinh doanh thâu tóm quyền kiểm soát một (các) chủ thể kinh doanh hoặc có thể có những ảnh hưởng mang tính quyết định tới một đơn vị kinh doanh khác”. Điều 217 của Luật Công ty Trung Quốc quy định “một bên kiểm soát thực sự” là “bất kỳ ai không cần thiết phải là cổ đông nhưng có thể nắm giữ quyền kiểm soát đối với mọi hành vi của công ty bằng công cụ quan hệ, thỏa thuận đầu tư hay biện pháp nào khác [18].

Hoạt động sáp nhập và mua lại có yếu tố nước ngoài ở Trung Quốc còn được điều chỉnh bởi Quy chế tạm thời về Sáp nhập và Mua lại Doanh nghiệp trong nước của Nhà đầu tư nước ngoài có hiệu lực kể từ ngày 12/04/2004 và 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quy chế về Sáp nhập và Phân chia Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có hiệu lực kể từ ngày 22/11/2001. Nhật Bản Các quy định liên quan đến M&A các công ty ở Nhật Bản được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Công ty Nhật bản năm 2006 (Companies Act), Luật Chống Độc quyền Tư nhân và Tổ chức Hội chợ (Act on Prohibition of Private Monopolization and Maintenance of Fair Trade) năm 1947, Bộ luật Dân sự Nhật Bản (Civil Code) năm 1989, Luật Thương mại Nhật bản (Commercial Code) năm 1911 [14]. Luật Công ty của Nhật Bản chia việc sáp nhập thành hai loại: sáp nhập (hay còn gọi là “sáp nhập nuốt” (absorption-type merger)) và hợp nhất (hay còn gọi là “sáp nhập-hợp nhất”) (Consolidation-type Merger). Sáp nhập có nghĩa là một công ty sáp nhập với một công ty khác thì công ty tồn tại sẽ kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của công ty bị sáp nhập (bị nuốt).

Còn hợp nhất là việc hai hay nhiều công ty hợp nhất lại với nhau và tạo thành một công ty mới. Công ty mới sẽ kế thừa toàn bộ mọi quyền và nghĩa vụ của các công ty bị hợp nhất. Để hạn chế tập trung kinh tế, Luật Chống độc quyền Tư nhân và Tổ chức Hội chợ, Điều 9 không cho phép việc thành lập một công ty mới mà công ty đó có thể có sự tập trung kinh tế. Định nghĩa của một số từ điển và chuyên gia 1.

Sherman trong cuốn Mergers and Acquisitions – from Ato Z đã định nghĩa M&A như sau: “Sáp nhập (Merger) là sự kết hợp giữa hai hay nhiều công ty mà qua đó tài sản và nghĩa vụ của công ty bán được chuyển giao sang công ty mua. Mặc dù có thể có sự thay đổi về cấu trúc tổ chức nhưng công ty mua vẫn giữ được 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản sắc ban đầu sau cuộc sáp nhập. Thâu tóm/mua lại (acquisition) là việc mua lại một tài sản, ví dụ như một nhà máy, một chi nhánh hoặc thậm chí cả một công ty nhằm mở rộng thị trường và đa dạng hóa sản phẩm”[13]. Theo Invest Dictionary (Mỹ) “Sáp nhập và mua lại là một khái niệm chung chỉ sự kết hợp kết hợp giữa các công ty với nhau.

Sáp nhập (merger) là việc hai công ty nhập thành một công ty mới, còn thâu tóm (acquisition) để chỉ việc chuyển giao sở hữu một công ty sang một công ty khác mà không xuất hiện thêm công ty mới. Theo Small Business Dictionary (Mỹ) Một vụ sáp nhập (merger) xảy ra khi một công ty này nhận lãnh toàn bộ tài sản và nghĩa vụ nợ của công ty kia. Công ty mua lại vẫn giữ được địa vị của mình trong khi công ty bị mua lại chấm dứt sự tồn tại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hoàn thiện pháp luật về M&A tại Việt Nam theo cam kết quốc tế" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc cải thiện khung pháp lý cho hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) tại Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều chỉnh pháp luật để phù hợp với các cam kết quốc tế, từ đó tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch và hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư.

Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích rõ ràng từ việc hiểu biết về các quy định pháp lý mới, giúp họ nắm bắt cơ hội và giảm thiểu rủi ro trong các giao dịch M&A. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Ảnh hưởng của thông báo mua bán sáp nhập ma tới giá chứng khoán của công ty bên mua trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi phân tích tác động của thông báo M&A đến giá cổ phiếu. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ VNU LS sự điều chỉnh pháp luật về thị trường mua bán sáp nhập doanh nghiệp kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các kinh nghiệm quốc tế trong việc điều chỉnh pháp luật M&A, giúp bạn có thêm thông tin quý giá để áp dụng vào thực tiễn. Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh pháp lý của M&A tại Việt Nam.