CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ “ẢNH HƯỞNG CỦA THÔNG BÁO MUA BÁN, SÁP NHẬP (M&A) TỚI GIÁ CHỨNG KHOÁN”.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài và trong nước về “Ảnh hưởng của thông báo mua bán, sáp nhập (M&A) tới giá chứng khoáng”.1 Các nghiên cứu nước ngoài Gregor Andrade, Mark Mitchell và Erik Stafford (2001) : Nhóm nghiên cứu cho rằng trong những năm 1990, thế giới chứng kiến một làn sóng M&A mạnh mẽ mà trong đó mua cổ phiếu là phương thức thanh toán chủ đạo của các thương vụ. Trong đó, Gregor và cộng sự nhận thấy các công ty bên mua thường có tỷ suất sinh lời nhỏ hơn so với công ty bị mua lại trong dài hạn. Ngoài ra, tỷ suất sinh lời của cổ phiếu cũng có xu hướng âm trong thời gian công bố thông báo mua bán, sáp nhập. Nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu về các thương vụ M&A tại Mỹ trong giai đoạn từ 1973 tới 1998 với 3688 thương vụ được hoàn thành và đưa ra kết luận về lợi nhuận bất thường của được tạo ra thông qua mua bán, sáp nhập.
Bảng 1: Lợi nhuận bất thường quanh cửa sổ sự kiện trong giai đoạn 1973-1998 1973-1979 1980-1989 1990-1998 1973-1998 Công ty sau hợp nhất [-1;+1] 1.9% Công ty bị sáp nhập [-1;+1] 16.8% Công ty bên mua [-1;+1] -0.8% Số mẫu 598 1226 1864 3688 Nguồn : Sinh viên tổng hợp 1 Geeta Duppati, Sazali Abidin và Jiani Hu (2015) : Bài nghiên cứu này đã nghiên cứu các phản ứng ngắn hạn và dài hạn của thị trường chứng khoán đối với việc công bố thông tin hoạt động mua bán, sáp nhập trong nước và xuyên biên giới của các công ty bên mua của Trung Quốc. Geeta Duppati và cộng sự cho rằng các thương vụ M&A ngắn hạn thường tác động tích cực lên tỷ suất sinh lời của cổ phiếu. Ngược lại, các thương vụ M&A xuyên biên giới có xu hướng tác động tiêu cực lên lợi nhuận của cổ phiểu trong dài hạn. Mahabubur Rahman (2015): Từ quan điểm của các tài liệu về M&A rộng lớn hơn, Rahman và cộng sự cảm thấy rằng bài nghiên cứu nên tập trung vào các sự chú ý vào hiệu suất bán hàng hàng đầu đã bị bỏ qua phần lớn trong nghiên cứu, liên quan đến tiết kiệm chi phí.
Các nhà nghiên cứu tin rằng việc khắc phục sự cân bằng này là một giá trị đóng góp và hy vọng rằng kết quả sẽ dẫn đến một trọng tâm mới vào việc mở rộng động cơ của việc sáp nhập và mua bán, trái ngược với sự nhấn mạnh thông thường hơn về thu hẹp và tiết kiệm chi phí. Samarakoon (2009): Nhà nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu độc nhất của những nhà đầu tư hàng đầu tới từ Sri Lanka. Các kết quả thực nghiệm về vấn đề mối quan hệ giữa lợi nhuận và dòng chảy đưa ra một số bằng chứng đáng chú ý về hành vi của nhà đầu tư. Hành vi của các nhà đầu tư thay đổi tùy theo việc giao dịch ở bên mua hoặc bên bán.
Bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các nhà đầu tư trong nước tiếp cận với nguồn thông tin hữu ích nhiều hơn so với nhà đầu tư nước ngoài, tuy vậy nhà nghiên cứu lại khẳng định chưa có đủ điều kiện để kết luận rằng các thông báo mua bán, sáp nhập tạo ra động lực đẩy giá cổ phiếu lên cao và ngược lại. Anson Wong và cộng sự (2009): Nhóm nghiên cứu đã điều tra tác động của thông báo mua bán, sáp nhập thông qua việc sử dụng dữ liệu của Bloomberg và cơ sở dữ liệu của Reuters tại Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc và Nhật Bản từ 1 tháng 1 năm 2000 đến 31 tháng 12 năm 2007. Kết quả chỉ ra rằng thông tin liên quan đến việc tiếp quản công ty sắp tới được coi là tin tốt cho các cổ đông của các công ty bên mua nhưng không được coi là tin tốt cho các cổ đông của các công ty 2 mục tiêu. Wong và cộng sự còn chỉ ra rằng CAAR thường biến dộng tích cực vào thời điểm xuất hiện thông báo M&A.
Kết luận : Các nghiên cứu nước ngoài đã chỉ ra rằng việc mua bán sáp nhập có ảnh hưởng tới giá cổ phiếu của cả hai công ty trong các khoảng thời gian khác nhau. Nhưng phần lớn các nghiên cứu đều chọn mẫu tại những đất nước phát triển với một thị trường chứng khoán lâu năm trên thế giới. Các nghiên cứu mới dừng lại ở các khu vực Đông Bắc Á chứ không nghiên cứu về thị trường Đông Nam Á nơi có có thị trường chứng khoán non trẻ, thiếu kinh nghiệm.2 Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Thu Hiền và Lê Tường Luật (2011): Nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu trên 20 trường hợp mua bán sáp nhập đều là công ty được niêm yết trên trên sàn chứng khoán Việt Nam. Nguyễn Thu Hiền và Lê Tường Luật cho rằng có tồn tại bất cân xứng về mặt thông tin và quản trị công ty bị các công ty bên mua, đưa ra bằng chứng rằng các doanh nghiệp bên mua coi giá trị cộng hưởng là động cơ theo đuổi thương vụ mua bán, sáp nhập.
Phan Thị Hồng Hạnh (2016): Đã nghiên cứu sự thay đổi của giá cổ phiếu của 25 công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam khi thông tin về sự kiện mua bán, sáp nhập được công bố, từ năm 2008 tới 2015. Nghiên cứu chỉ ra thị trường coi tăng giá trị doanh nghiệp sau khi hợp nhất do lợi thế theo quy mô là đông cơ chính của các thương vụ M&A được thực hiện. Võ Hoàng Oanh (2015): Tác giả đã đánh giá tác động của hoạt động M&A lên giá cổ phiếu của ngân hàng nhận sáp nhập đối với trường hợp ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-BIDV. Sử dụng dữ liệu tần suất ngày của giá đóng cửa của cổ phiếu ngân hàng này-BID, tác giả kiểm tra xem thông báo sáp nhập ngân hàng TMCP Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long có ảnh hưởng đáng kể lên biến động giá cổ phiếu BID hay không.
Kết quả bài viết cho thấy việc thông báo M&A thực sự có làm 3 tăng đáng kể giá cổ phiếu của ngân hàng BIDV, đem lại cho cổ đông mức tỷ suất sinh lợi cao. Kết luận : Các nghiên cứu trong nước chủ yếu kết luận rằng việc thực hiện M&A là do động cơ nhận được giá trị cộng hưởng và mở rộng quy mô. Oanh (2015) đã phần nào chỉ ra được ảnh hưởng của việc mua bán, sáp nhập lên giá cổ phiếu BID nhưng bài nghiên cứu này lại chỉ nghiên cứu về một thương vụ duy nhất nên không thể dùng kết quả để đánh giá tổng thể sự kiện mua bán, sáp nhập có ảnh hưởng tới giá cổ phiếu công ty bên mua không.2 Cơ sở lý thuyết về hoạt đông mua bán, sáp nhập (M&A) và phương pháp nghiên cứu sự kiện 1.1 Tổng quan về mua bán, sáp nhập (M&A) a. Khái niệm: - Theo Wikipedia: Mua bán và sáp nhập là hoạt động giành quyền kiểm soát doanh nghiệp hay một bộ phận của doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần hay toàn bộ doanh nghiệp đó.
- Theo Investopedia: Mua bán và sáp nhập (M&A) là một thuật ngữ chung được sử dụng để mô tả việc hợp nhất các công ty hoặc tài sản thông qua các loại giao dịch tài chính khác nhau, bao gồm sáp nhập (merger), mua lại (acquisition), hợp nhất (consolidation), chào mua công khai (tender offer), mua tài sản (purchase asset) và mua lại quyền quản lý (management acquisition). - Theo Luật cạnh tranh 2018 – 23/2018/QH14: + Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại. 4 + Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập. + Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.
Đặc điểm: Mua bán và sáp nhập thường được hiểu chung là một hoạt động nhưng trên thực tế chúng có những đặc trưng khác nhau cần phải phân biệt: Về mua bán Mua bán hay mua lại là hình thức kết hợp mà một công ty mua một phần hoặc toàn bộ công ty mục tiêu và trở thành cổ đông của công ty đó nhưng không phát sinh việc tạo lập một doanh nghiệp mới. Mục tiêu của doanh nghiệp bên mua là nhằm tăng thị phần, tăng quy mô và hiệu quả hoạt động. Về sáp nhập Sáp nhập là hình thức kết hợp mà các công ty có cùng quy mô, được thỏa thuận phân chia cổ phần. Công ty mục tiêu sẽ chuyển toàn bộ tài sản, quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp sang cho công ty nhận sáp nhập, đồng thời phủ định đi sự tồn tại của công ty mục tiêu và trở thành một doanh nghiệp mới.
Hoạt động sáp nhập thường xảy ra ở các doanh nghiệp trong cùng một ngành. Mục đính chính của mua bán và sáp nhập không chỉ dừng lại ở mức độ sở hữu một phần doanh nghiệp như các nhà đầu tư nhỏ lẻ mà còn tiến tới giành quyền kiểm soát doanh nghiệp theo chiến lược của doanh nghiệp bên mua. Nên khi một nhà đầu tư đạt được tỷ lệ sở hữu đủ lớn để tham gia và quyết định các vấn đề liên quan, ảnh hưởng trực tiếp tới đến doanh nghiệp thì mới có thể coi là hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A). - Căn cứ vào chức năng của các công ty thành viên : hoạt động M&A có thể được phân loại theo 3 hình thức: M&A chiều ngang, M&A chiều dọc và M&A kết hợp.
+ Mua bán, sáp nhập theo chiều ngang (Horizontal): là hình thức mua bán, sáp nhập giữa các doanh nghiệp cùng ngành, việc sáp nhập giữa các công ty cạnh tranh trực tiếp, có cùng loại sản phẩm và thị trường. Kết quả từ việc mua bán, sáp nhập theo hình thức này sẽ mang lại cơ hội mở rộng thị trường, tăng hiệu quả trong việc kết hợp thương hiệu, giảm chi phí cố định, tăng cường hiệu quả hệ thống phân phối.