Chương 1: Cơ sở lý thuyết về mô hình ĐQL nghề cá. Chương 2: Đánh giá việc triển khai thực hiện mô hình ĐQL nghề cá tại thị xã Hoàng Mai. tỉnh Nghệ An. Chương 3: Hoàn thiện mô hình ĐQL nghề cá tại thị xã Hoàng Mai.
Luận văn với đề tài “H o à n th iệ n m ô h ì n h đ ồ n g q u ả n lý n g h ề cá tạ i t h ị xã H o à n g M a i, t ỉ n h N g h ệ A n ” là kết quả nghiên cứu độc lập của tác giả. Qua 3 chương chính của luận văn đã làm rõ được một số vấn đề như sau: ❖ T h ử n h ấ t, luận văn đã giới thiệu khái quát cơ sở lý thuyết về đồng quản lý và mô hình đồng quản lý , điều này thể hiện ở một số khía cạnh như sau: M ộ t là , tác giả giới thiệu khái quát về nghề cá quy mô nhỏ, khái niệm đồng quản lý (ĐQL), đặc điểm ĐQL và sự cần thiết áp dụng mô hình ĐQL tại Việt Nam. Trên nghiên cứu của luận văn, “ĐQL được hiểu như là cách thức chia sẻ hoặc phân định quyền lực và trách nhiệm giữa chính quyền và những người sử dụng nguồn lợi nhằm quản lý một đối tượng nguồn lợi nào đó như nguồn lợi cá, rạn san hô, vùng nuôi thủy sản hoặc hồ chứa, một cánh rừng.Phạm vi và cách thức chia sẻ quyền lực và trách nhiệm không giống nhau ở các nước khác nhau và các địa phương khác nhau, do những điều kiện và nền văn hóa khác nhau” (Hà Xuân Thông, 2011). ĐQL nghề cá được hiểu là phương pháp tham gia, nơi mà Chính phủ và người sử dụng NLTS chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn để quản lý nghề cá quốc gia hoặc nghề cá trong một vùng, dựa trên sự họp tác giữa hai bên và các bên liên quan khác Ill (ủ y hội nghề cá châu Á - Thái Bình Dương, 9-12/08/2005).
H ai là, tác giả đã mô tả tổ chức, nội dung và cơ chế của một mô hình ĐQL nghề cá. Nội dung thực hiện của mô hình ĐQL bao gồm các hoạt động nâng cao nhận thức và phát triển năng lực ĐQL tại địa phương; Xây dựng kế hoạch ĐQL; Xác định điều kiện giao quyền sử dụng cho cộng đồng và xây dựng quy chế cho cộng đồng. Các cơ chế hoạt động của mô hình ĐQL bao gồm cơ chế tài chính, cơ chế giải quyết tranh chấp, cơ chế giám sát, đánh giá, điều chỉnh kế hoạch thực thi ĐQL. Ba là, luận văn giới thiệu các tiêu chí đánh giá mô hình ĐQL.
Trong đó có tiêu chí đánh giá mô hình của Sen và Iesper Nielsen, tiêu chí đánh giá mô hình ĐQL trong ngành thủy sản của Viện kinh tế và Quy hoạch thủy sản. Trong luận văn này, tác giả còn giới thiệu tiêu chí đánh giá mô hình theo tiêu chí đánh giá dự án đầu tư công. ❖ T h ứ hai, luận văn đi đánh giá thực trạng triển khai mô hình ĐQL nghề cá tại thị xã Hoàng Mai. M ột là, tác giả đã phân tích bối cảnh về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, các hoạt động kinh tế của hai xã Quỳnh Lập và phường Quỳnh Phương của thị xã Hoàng Mai.
Nêu rõ thực trạng quản lý nghề cá và nguồn lợi thủy sản trên địa bàn trước khi áp dụng mô hình ĐQL. H ai là, tác giả phân tích thực trạng triển khai mô hình ĐQL nghề cá tại thị xã Hoàng Mai trên các khía cạnh tổ chức, nội dung và cơ chế thực hiện mô hình ĐQL. Ba là, luận văn đánh giá mô hình ĐQL nghề cá trên các tiêu chí đánh giá dự án đầu tư công bao gồm bốn tiêu chí sau: tính phù hợp, tính hiệu quả, tính bền vững và tác động lan tỏa của mô hình. về tỉnh phù hợp: Mô hình ĐQL nghề cá của thị xã Hoàng Mai có mục tiêu nhàm quản lý khai thác, sử dụng và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên và NLTS, bảo tồn NLTS, bảo vệ môi trường, giảm thiểu nghề khai thác mang tính chất hủy diệt, nâng cao chất lượng đời sống của cộng đồng ngư dân.
Mô hình phù họp với mục tiêu quản lý, khai thác ngành thủy sản Việt Nam thể hiện qua các văn bản pháp lý, các quy định, chính sách của nhà nước như Luật Thủy sản, Quyết định số IV 131/2004/QĐ-TTg: “Xây dựng các mô hình tổ chức quản lý vùng biển ven bờ phù hợp với tập quán, truyền thống của ngư dân địa phương. Đồng thời phát huy và nâng cao vai trò của cộng đồng ngư dân trong hoạt động quản lý, bảo vệ nguồn lợi và môi trường sống của các loài thủy sản. Chỉ thị số 03/2006/CT-BTS: “.tổ chức lại quản lý vùng biển ven bờ theo hình thức dựa vào cộng đồng, nghiên cứu xây dựng các mô hình tổ chức phù hợp với từng vùng biển; đề xuất chính sách giao quyền cho cộng đồng quản lý vùng biển ven bờ để Bộ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt. Quyết định 02/2015/QĐ -ƯBND của tỉnh Nghệ An ngày 09/01/2015 ban hành quy định quản lý hoạt động khai thác, bảo vệ và phát triển NLTS trên địa bàn tỉnh Nghệ An: “khuyến khích cộng đồng ngư dân, chính quyền địa phương các xã, phường tổ chức quản lý các hoạt động khai thác thủy sản tại vùng nước ven bờ với sự tham gia của cộng đồng; gắn trách nhiệm và quyền lợi của người dân trong việc khai thác, bảo vệ, phát triển môi trường và NLTS.
Tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng ngư dân thành lập Họp tác xã, tổ nhóm, hội và phổi hợp với chính quyền địa phương quản lý việc khai thác, nuôi trồng, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trên vùng nước ven bờ”. Quyết định 63/2011/QĐ-ƯBND của tỉnh Nghệ An tại khoản 1 điều 10: “Khuyến khích cộng đồng ngư dân, chính quyền địa phương các xã, phường tổ chức quản lý các hoạt động nghề cá tại vùng nước ven bờ được phân công quản lý với sự tham gia của cộng đồng; gắn trách nhiệm và quyền lợi cuả người dân trong việc khai thác, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản và bảo vệ môi trường. Tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng ngư dân thành lập Hợp tác xã, tổ nhóm, hội và phối hợp với chính quyền địa phương quản lý việc khai thác, nuôi trồng, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trên vùng nước ven bờ.” Mô hình dựa trên được đánh giá là có tính phù họp cao với chiến lược phát triển ngành thủy sản của quốc gia, phù họp với kế hoạch và đường lối phát triển, bảo vệ NLTS của tỉnh Nghệ An. Mô hình ĐQL nghề cá ven bờ thị xã Hoàng Mai không chỉ phù họp với chính sách phát triển thủy sản của địa phương và của Chính phủ mà còn có mục tiêu hướng đến nhu cầu của người dân địa phương.
V Điều này được thể hiên qua việc mô hình đã thu hút được 136 hộ ở xã Quỳnh Lập, 262 hộ thuộc phường Quỳnh Phương tương ứng với 100% số hộ khai thác ven bờ gia đình trên địa bàn toàn huyện tự nguyện tham gia vào cộng đồng nghề cá ven bờ. Điều này cũng là một minh chứng cho thấy người dân quan tâm và mong muốn được tham gia vào mô hình ĐQL. Việc thực hiện mô hình ĐQL chú trọng đến nhu cầu của người dân địa phương và cán bộ xã/phường. Theo kết quả khảo sát về nhu cầu thực tế cần xây dựng mô hình tại xã Quỳnh Lập và phường Quỳnh Phương, 100% cán bộ xã cho rằng có nhu cầu thực tế xây dựng mô hình ĐQL nghề cá ven bờ tại địa phương xuất phát từ nhu cầu về hỗ trợ trong sản xuất, bảo vệ nguồn lợi nghế cá ven bờ, chia sẻ trách nhiệm giữa chính quyền và cộng đồng.
về tính hiệu quả: luận văn dựa trên đánh giá về sự thay đổi vai trò và nhận thức của người dân và chính quyền địa phương; Sự thay đổi về nguồn lợi nghề cá và môi trường; Sự thay đổi về quyền quản lý và khai thác, sử dụng nguồn lợi nghề cá ven bờ của địa phương; Sự thay đổi về thu nhập và đời sống của người dân. Qua đó cho thấy mô hình tại thị xã Hoàng Mai đã có những mặt hiệu quả nhất định, cụ thể là nhận thức và năng lực của cộng đồng đã được nâng cao. Bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghề cá ven bờ, tăng quyền quản lý cho cộng đồng người dân. Tuy nhiên vẫn còn một số mặt không hiệu quả như khả năng phối hợp giữa người dân và chính quyền địa phương chưa được cao, thu nhập của cộng đồng vẫn chưa được nâng cao vá ổn định,.
về tính bền vững của mô hình: Tính bền vững của mô hình ĐQL nghề cá ven bờ ở thị xã Hoàng Mai phụ thuộc rất lớn vào việc duy trì kinh phí hoạt động cho Hội ĐQL quản lý phường, xã, kinh phí hoạt động cho các Tổ ĐQL các nhóm hạt nhân. Hiện nay, mô hình ĐQL nghề cá ven bờ ở thị xã Hoàng Mai đang được nhận được sự hỗ trợ về tài chính của Chính phủ Đan Mạch và Ngân hàng Thế Giới WB. Nguồn tài chính cho các hoạt động của Tổ ĐQL chủ yếu dựa vào thành viên cộng đồng tự nguyện đóng góp, tuy nhiên phần lớn kinh phí để thực hiện việc giám sát, tuần tra, tuyên truyền,. của Tổ ĐQL vẫn do tài trợ của Chính phủ và các tổ chức nước ngoài.
Việc duy trì kinh phí hoạt động cho Hội ĐQL NLTS và các Nhóm VI hạt nhân là rất quan trọng nhằm đạt được tính bền vững lâu dài của các mô hình ĐQL. Tuy nhiên, đa số những người tham gia vào mô hình thường có đời sống kinh tế khó khăn do đó mức tự nguyện đóng góp hoạt động của mô hình không cao. Như vậy có thể nhận thấy tính bền vững về tài chính của mô hình chưa cao. v ề bình đẳng giới, mô hình ĐQL tại thị xã Hoàng Mai đã tiến hành tổ chức đào tạo ngành chế biến nước mắm cho phụ nữ trong vùng ĐQL tại hai xã Qu>mh Lập và Phường Quỳnh Phương.
Có thể nói, mô hình đã phát huy được quyền lợi của phụ nữ, giúp họ tự tin và có nhiều cơ hội hơn trong các hoạt động sản xuất cũng như quan hệ xã hội. v ề phát triền sinh kế, theo điều tra của tác giả, sau khi thực hiện mô hình, nehề khai thác hải sản vẫn là nguồn sinh kế chính, các hộ chỉ dựa hoàn toàn vào khai thác thủy sản (không có đất trông trọt hay chăn nuôi).