Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động marketing. Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing của Công ty TNHH Sản xuất & Thương mại Thago Furniture tại thị trường Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing cho Công ty TNHH Sản xuất & Thương mại Thago Furniture tại thị trường Việt Nam.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING 1. Cơ sở lý luận về hoạt động marketing 1.
Khái niệm và vai trò của marketing Theo Philip Kotler (1997), Marketing là hoạt động của con người hướng đến việc thỏa mãn nhu cầu và ước muốn thông qua tiến trình trao đổi". Theo hiệp hội Marketing Mỹ (AMA) định nghĩa: “Marketing là quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mãi và phân phối sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi nhằm thoả mãn các mục tiêu của cá nhân và tổ chức”. Rõ ràng có thể thấy, sự khác nhau giữa các khái niệm nêu trên là góc độ nhìn nhận về marketing. Tuy nhiên, qua các khái niệm trên có thể thấy hai nhiệm vụ cơ bản của marketing như sau: Thứ nhất, marketing nhằm nghiên cứu, phát hiện, phân tích, đánh giá lựa chọn nhu cầu và mong muốn của khách hàng và các đối tác liên quan.
Thứ hai, marketing hướng đến việc thoả mãn các nhu cầu và mong muốn đó bằng các sản phẩm, dịch vụ và các chính sách, công cụ marketing phù hợp. Các nội dung trọng tâm của hoạt động Marketing Chiến lược Marketing mục tiêu a. Phân đoạn thị trường Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia thị trường tổng thể thành nhiều nhóm khách hàng khác nhau theo những tiêu thức nhất định sao cho mỗi nhóm gồm những khách hàng có những đặc điểm chung, có nhu cầu và hành vi mua giống nhau (Trần Minh Đạo, 2020). Để phân đoạn thị trường, các doanh nghiệp có thể lựa chọn một hoặc nhiều tiêu thức trong các nhóm tiêu thức cơ bản sau: - Thứ nhất là nhóm tiêu thức địa lý.
- Thứ hai là nhóm tiêu thức nhân khẩu học. - Thứ ba là nhóm tiêu thức tâm lý. - Và thứ tư là nhóm tiêu thức hành vi. Lựa chọn thị trường mục tiêu Thị trường mục tiêu là một hoặc một vài đoạn thị trường mà doanh nghiệp lựa chọn và quyết định tập trung nỗ lực marketing vào đó nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của mình.
9 Để lựa chọn thị trường mục tiêu một cách phù hợp, trước tiên doanh nghiệp cần xem xét và đánh giá mức độ hấp dẫn của đoạn thị trường. Dưới đây là một số tiêu chí cần đánh giá: Thứ nhất là quy mô và mức tăng trưởng của đoạn thị trường. Thứ hai là mức độ hấp dẫn về cơ cấu thị trường. Thứ ba là các mục tiêu và khả năng của doanh nghiệp.
Các phương án lựa chọn thị trường mục tiêu có thể chia thành 5 loại: Một là tập trung vào một đoạn thị trường. Hai là chuyên môn hóa theo khả năng. Ba là chuyên môn hóa theo sản phẩm, tức là doanh nghiệp sẽ tập trung phát triển một loại hay một dòng sản phẩm nào đó. Bốn là chuyên môn hóa theo thị trường.
Năm là bao phủ toàn bộ thị trường. Định vị Định vị thị trường là việc thiết kế sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp nhằm chiếm được một vị trí đặc biệt và có giá trị trong tâm trí khách hàng mục tiêu (Philip Kotler 2007). Theo mô hình Bull’s - eye, để xây dựng định vị, cần hoạch định cho thương hiệu các yếu tố sau: - Tuyên ngôn định vị (Brand Mantra): Giá trị cốt lõi của thương hiệu, hình ảnh đầu tiên muốn khách hàng nhớ đến khi nghĩ hoặc tiếp xúc với thương hiệu - Vòng 1: Giá trị của thương hiệu bao gồm: + Điểm tương đồng thương hiệu (Points of Parity - POPs): là những đặc điểm hoặc chức năng mà mọi thương hiệu trong ngành cần có để tham gia vào thị trường và được coi là đáng tin cậy + Điểm khác biệt thương hiệu (Points of Difference - PODs): là những đặc điểm hoặc giá trị độc đáo mà chỉ riêng một thương hiệu sở hữu - Vòng 2: Các yếu tố xác thực (Reason To Believe): là cách mà thương hiệu thực hiện để đảm bảo những điểm khác biệt duy nhất PODs - Vòng 3: Tính cách và bản sắc trực quan của thương hiệu bao gồm: + Tính cách thương hiệu (Value/Personality/Character): Cá tính, hình mẫu, tính cách mà thương hiệu theo đuổi. 10 - Bản sắc trực quan của thương hiệu (Executional Properties/ Visual Identity): Các yếu tố thuộc về bộ nhận diện thương hiệu Hình 1.
Mô hình định vị thương hiệu Bullseye Hoạt động Marketing - mix a. Chính sách sản phẩm Sản phẩm – hàng hóa là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của khách hàng, mang lại những lợi ích cho họ và có khả năng đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng. Ba cấp độ cấu thành nên một sản phẩm bao gồm: - Sản phẩm cốt lõi. - Sản phẩm hiện thực: Bao gồm tất cả phần hữu hình của sản phẩm mà khách hàng có thể thấy và cảm nhận được.
- Sản phẩm bổ sung: Bao gồm các dịch vụ hay sản phẩm đi kèm nhằm hoàn thiện cho sản phẩm thực. ● Chủng loại và danh mục sản phẩm Trong quá trình xây dựng chiến lược cho sản phẩm, doanh nghiệp cũng phải cân nhắc về chủng loại và danh mục sản phẩm. Có thể định nghĩa đơn giản về hai khái niệm này như sau: Chủng loại sản phẩm là nhóm sản phẩm có liên quan chặt chẽ với nhau do có chung: Chức năng, tập khách hàng, giá bán hoặc cùng những kiểu tổ chức thương mại. 11 Danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả các chủng loại sản phẩm và các đơn vị sản phẩm do một người bán cụ thể đem bán cho người mua.
Tùy thuộc vào mục tiêu và phương hướng của mình, các doanh nghiệp sẽ có những cách thức lựa chọn bề rộng và bề sâu của chủng loại và danh mục sản phẩm một cách phù hợp. ● Chu kỳ sống của sản phẩm Đây là thuật ngữ mô tả sự biến đổi của doanh số tiêu thụ kể từ khi sản phẩm được đưa ra thị trường cho đến khi rút lui khỏi thị trường. Chu kỳ sống của sản phẩm bao gồm bốn giai đoạn: Đầu tiên là giai đoạn giới thiệu. Thứ hai là giai đoạn tăng trưởng.
Thứ ba là bão hoà và cuối cùng là suy thoái. Mỗi giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm đều có một đặc điểm riêng. Doanh nghiệp cần có những chiến lược nhất định cho từng giai đoạn để có thể đạt được hiệu quả cao. Chính sách giá ● Phương pháp định giá Phương pháp định giá dựa vào chi phí: Với phương pháp này, căn cứ định giá là chi phí bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Phương pháp định giá trị cảm nhận của khách hàng: Theo phương pháp này, công ty xác định giá trên nhận thức của khách hàng về giá trị của sản phẩm.
Phương pháp định giá dựa theo đối thủ cạnh tranh: Để áp dụng phương pháp này, doanh nghiệp sẽ lấy giá của đối thủ cạnh tranh làm cơ sở. Khi đó, việc định giá có thể xảy ra ba trường hợp: - Định giá ngang bằng với đối thủ cạnh tranh. - Định giá cao hơn đối thủ cạnh tranh. - Định giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh.
Phương pháp định giá đấu thầu: Xảy ra trong những trường hợp các doanh nghiệp tham gia dự thầu, giá đấu thầu thuộc loại giá cạnh tranh. ● Các chiến lược giá Các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình các chiến lược về giá để có thể thích ứng một cách nhanh chóng với những thay đổi về cầu, về chi phí, khai thác tối đa những cơ hội xuất hiện trong từng giao dịch và phản ứng kịp thời với cạnh tranh về giá. Chiến lược giá bao gồm: 12 Chiến lược giá cho sản phẩm mới: Đây là chiến lược giá áp dụng cho giai đoạn đầu của chu kỳ sống sản phẩm. Bao gồm: - Chiến lược giá hớt váng - Chiến lược giá thâm nhập.
Chiến lược giá cho danh mục sản phẩm, bao gồm: - Định giá cho chủng loại sản phẩm - Định giá cho các sản phẩm phụ thêm - Định giá cho sản phẩm kèm theo bắt buộc - Định giá cho sản phẩm phụ của quá trình sản xuất c. Chính sách phân phối Kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp, cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Trong kênh phân phối có sự tham gia của một số trung gian như: Nhà bán buôn, nhà bán lẻ, nhà phân phối, đại lý và môi giới. Cấu trúc của kênh phân phối bao gồm: chiều dài của kênh phân phối, chiều rộng của kênh phân phối.
Chính sách xúc tiến hỗn hợp Các dạng chủ yếu của xúc tiến hỗn hợp là quảng cáo, khuyến mại, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân và marketing trực tiếp. - Quảng cáo bao gồm mọi hình thức truyền thông một cách gián tiếp và đề cao những ý tưởng, hàng hóa, dịch vụ được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể quảng cáo và chủ thể phải thanh toán chi phí. - Xúc tiến bán là những biện pháp tác động tức thì ngắn hạn để khuyến khích việc dùng thử hoặc mua sản phẩm hay dịch vụ ngay lập tức, hoặc mua nhiều hơn. Xúc tiến bán bao gồm khuyến mại - hướng tới người tiêu dùng và khuyến mãi - hướng tới các trung gian trong kênh phân phối - Quan hệ công chúng là các hoạt động nhằm xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa doanh nghiệp với các nhóm công chúng liên quan thông qua các công cụ tổ chức sự kiện, các hoạt động cộng đồng, bộ nhận diện thương hiệu, tin tức, các bài phát biểu.
13 - Bán hàng cá nhân là hoạt động thuyết trình chào bán mang tính chất cá nhân được thực hiện bởi lực lượng bán hàng của doanh nghiệp nhằm bán hàng và xây dựng mối quan hệ với khách hàng. - Marketing trực tiếp bao gồm mọi sự liên lạc trực tiếp với cá nhân những khách hàng mục tiêu đã được lựa chọn. Marketing trực tiếp bao gồm các hình thức như: thư trực tiếp (thư chào hàng, tờ rơi,.); Catalog; SMS Marketing, Telemarketing; Email,. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI THAGO FURNITURE TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 2.
Tổng quan về công ty 2.