LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các thông tin tài chính có độ tin cậy, chính xác và trung thực hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với các chủ thể trong các hoạt động kinh tế. Kiểm toán độc lập hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu này của nền kinh tế. Hoạt động kiểm toán độc lập nhằm góp phần công khai, minh bạch thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị được kiểm toán và doanh nghiệp, tổ chức khác; làm lành mạnh môi trường đầu tư; thực hành tiết kiệm, tránh lãng phí, chống tham nhũng; phát hiện và ngăn chặn vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Kiểm toán Báo cáo tài chính (“BCTC”) là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán. Kết quả của quá trình kiểm toán BCTC được thể hiện trên Báo cáo kiểm toán (“BCKT”). BCKT được sử dụng để cổ đông, nhà đầu tư, bên tham gia liên doanh, liên kết, khách hàng và tổ chức, cá nhân khác có quyền lợi trực tiếp hoặc liên quan đến đơn vị được kiểm toán xử lý các quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan; cơ quan nhà nước quản lý, điều hành theo chức năng, nhiệm vụ được giao; đơn vị được kiểm toán phát hiện, xử lý và ngăn ngừa kịp thời sai sót, yếu kém trong hoạt động của đơn vị. Để hình thành ý kiến kiểm toán, kiểm toán viên (“KTV”) phải có được các căn cứ vững chắc cũng như các thông tin cốt yếu trong công việc ghi chép kế toán và các nguồn số liệu đáng tin cậy khác đã được dùng làm cơ sở cho việc xây dựng BCTC, hay nói cách khác, KTV phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp.
Đặc biệt khi kiểm toán BCTC, KTV thường chú ý đến những khoản mục quan trọng, có ảnh hưởng trọng yếu đến tính trung thực và hợp lý của BCTC. Trần Bảo Hà K17CLC-KT Khóa luận tốt nghiệp 2 Học viện Ngân hàng Khoản mục “Nợ phải thu khách hàng” là một loại tài sản khá nhạy cảm với sai sót và gian lận như bị nhân viên chiếm dụng hoặc biển thủ. Nợ phải thu khách hàng còn là khoản mục có liên quan mật thiết với kết quả hoạt động kinh doanh. Do đó, đây là đối tượng mà những doanh nghiệp dùng để thổi phồng hoặc che dấu doanh thu và lợi nhuận của đơn vị.
Ngoài ra, nợ phải thu khách hàng là khoản mục thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp, bởi lẽ sự cạnh tranh ngày càng cao trên thị trường là một nhân tố thúc đẩy nhiều doanh nghiệp phải mở rộng chính sách bán chịu. Điều này càng làm tăng rủi ro có sai phạm do doanh nghiệp không chịu lập dự phòng hoặc ước tính lập dự phòng chưa hợp lý đối với nợ phải thu khó đòi. Nhận thấy được tầm quan trọng của khoản mục nợ phải thu khách hàng, trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH Kiểm toán KTC SCS – Chi nhánh Hà Nội, người viết đã lựa chọn đề tài: “ HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI THU KHÁCH HÀNG TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN KTC SCS” thực hiện khóa luận tốt nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính.
Xem xét các ưu điểm và hạn chế của kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng để đưa ra các giải pháp phù hợp. Mục tiêu cụ thể: - Tìm hiểu chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán và những nội dung liên quan đến khoản mục nợ phải thu khách hàng; - Mô tả quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng theo mẫu của VACPA; - Minh họa thực tế về quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu được áp dụng với khách hàng ABC của Công ty TNHH Kiểm toán KTC SCS; - Đưa ra những vấn đề KTV thường gặp trong quá trình kiểm toán nợ phải thu khách hàng. Trần Bảo Hà K17CLC-KT Khóa luận tốt nghiệp 3 Học viện Ngân hàng - Rút ra nhận xét, kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán chung và quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng. Đánh giá thực trạng: 3.
Ưu điểm: - Trình bày đầy đủ và chi tiết về đặc điểm, vai trò, những chính sách liên quan đến khoản mục nợ phải thu khách hàng. - Đưa ra quy trình kiểm toán và các phương pháp kiểm toán điển hình cho kiểm toán nợ phải thu khách hàng - So sánh quy trình kiểm toán nợ phải thu khách hàng với thực tế kiểm toán nợ phải thu khách hàng tại Công ty TNHH Kiểm toán KTC SCS. - Làm rõ những ưu điểm – tồn tại trong quá trình kiểm toán nợ phải thu khách hàng tại KTC SCS và đưa ra những nguyên nhân và giải pháp cho những tồn tại. - Đưa ra những vấn để kiểm toán viên thường gặp phải trong quá trình kiểm toán nợ phải thu khách hàng.
Hạn chế: - Chưa làm rõ được những vấn đề mà kiểm toán viên thường gặp trong quá trình kiểm toán nợ phải thu khách hàng. - Chưa có các giải pháp đột phá với thực tế kiểm toán nợ phải thu khách hàng tại KTC SCS. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu: Nội dung đề tài được thực hiện tại Công ty TNHH Kiểm toán KTC SCS. Đề tài tập trung nghiên cứu về quy trình kiểm toán khoản mục nơ phải thu khách hàng tại Công ty TNHH Kiểm toán KTC SCS thực tế đang áp dụng.
Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu nội dung, phương pháp, quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng trong kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán KTC SCS thực hiện. Trần Bảo Hà K17CLC-KT Khóa luận tốt nghiệp 4 Học viện Ngân hàng 3. Phương pháp nghiên cứu - Thu thập nguồn thông tin nội bộ tại đơn vị thực tập, tham khảo chương trình kiểm toán chuẩn của SCS Global; - Tham khảo, nghiên cứu các tài liệu, thông tin khách hàng từ hồ sơ kiểm toán các năm trước; và - Trực tiếp tham gia kiểm toán tại công ty ABC để tiến hành quan sát, phỏng vấn, thu thập số liệu để phân tích, so sánh, đối chiếu… - Khảo sát KTV trên cơ sở thực tế quá trình kiểm toán tại một số khách hàng 4. Kết cấu khóa luận Nội dung nghiên cứu: Ngoài phần tóm tắt, kết luận, doanh mục sơ đồ, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo… nội dung chính của đề tài được thiết kế gồm ba chương.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng trong kiểm toán BCTC của Kiểm toán độc lập. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng khi kiểm toán BCTC của Công ty TNHH Kiểm toán KTC SCS. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm toán khoản mục Nợ phải thu khách hàng trong kiểm toán BCTC cho Công ty TNHH Kiểm toán KTC SCS. Em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.
Lê Văn Luyện, cũng các anh chị trong Công ty KTC SCS đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này. Do hạn chế về thời gian và hiểu biết còn hạn chế nên bài viết của em còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý từ thầy cô và các anh chị trong công ty. Trần Bảo Hà K17CLC-KT Khóa luận tốt nghiệp 5 Học viện Ngân hàng CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BCTC CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 1.
Những vấn đề chung về Nợ phải thu khách hàng 1. Khái niệm Nợ phải thu và Nợ phải thu khách hàng Nợ phải thu là tài khoản dùng để phản ánh nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng trong quá trình sản xuất – kinh doanh. Nợ phải thu là một dạng tài sản lưu động của doanh nghiệp, một trong những yếu tố quan trọng tác động đến tính thanh khoản của doanh nghiệp vì vậy cần sự hạch toán chính xác, kịp thời cho từng đối tượng, giao dịch cụ thể. (Giáo trình Kế toán tài chính – PGS.TS Nguyễn Phú Quang, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân) Nợ phải thu được phân loại theo đối tượng và theo thời gian: Theo đối tượng: Nợ phải thu khách hàng; Nợ phải thu nội bộ và Nợ phải thu khác.
Theo thời gian: Nợ phải thu ngắn hạn và Nợ phải thu dài hạn. Nợ phải thu khách hàng là một loại tài sản của doanh nghiệp thể hiện mối quan hệ thanh toán giữa nhà cung cấp và khách hàng dựa trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch phát sinh trong giao dịch mua bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng chưa thanh toán cho nhà cung cấp. Đứng trên góc độ doanh nghiệp, nợ phải thu khách hàng là khoản phải thu do khách hàng mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp nhưng chưa thanh toán. Đặc điểm của Nợ phải thu khách hàng ảnh hưởng đến kiểm toán BCTC Nợ phải thu khách hàng là một loại tài sản của doanh nghiệp bị người mua chiếm dụng mà đơn vị có trách nhiệm phải thu hồi.
Các giao dịch chủ yếu phát sinh từ hoạt động bán chịu hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp các nghiệp vụ bán chịu này có liên quan tới nhiều khoản mục khác trong báo cáo tài chính như doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ hay thuế giá trị gia tăng. Do vậy, trong quá trình kiểm toán KTV cần chú ý đến sự phê chuẩn của các nghiệp vụ, xác nhận về sự tồn tại của khoản nợ hay không, quá trình giao nhận hàng hóa có đầy đủ các chứng từ hợp lệ, Trần Bảo Hà K17CLC-KT Khóa luận tốt nghiệp 6 Học viện Ngân hàng đảm bảo không xảy ra tình trạng chiếm dụng hay lợi dụng mối quan hệ của khoản mục này với doanh thu và lợi nhuận để thổi phồng số liệu.