phần mở đầu và kết luận, Đề án đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công. Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm Văn hóa - Thông tin - Thể thao thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm Văn hóa - Thông tin - Thể thao thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG KHU VỰC CÔNG 1.
Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ Theo COSO năm 1992 đƣa ra nhận định về KSNB: “KSNB là một quá trình do ngƣời quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó đƣợc thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu: Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Các luật lệ và quy định đƣợc tuân thủ; Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả”. Sau hơn 20 năm, COSO đã ban hành bản cập nhật mới là COSO Internal Control 2013, theo đó “KSNB là một quy trình đƣa ra bởi Ban quản trị của doanh nghiệp, nhà quản lý và các nhân sự khác, đƣợc thiết kế để đƣa ra sự đảm bảo cho việc đạt đƣợc mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ”. KSNB và hệ thống KSNB cùng có chung mục đích, đều do con ngƣời xây dựng, thiết lập nhƣng chúng có những điểm khác nhau: - KSNB thƣờng đi vào kiểm soát với những chính sách, thủ tục, nguyên tắc, quy định có tính hệ thống đƣợc thừa nhận rộng rãi, phổ biến và bao trùm.
KSNB thƣờng quan tâm đến mục tiêu kiểm soát hơn là các hành vi cụ thể và thủ tục kiểm soát, với những quan điểm khác nhau trong từng điều kiện và giai đoạn cụ thể. - Hệ thống KSNB là nói đến các chính sách, thủ tục, các bƣớc kiểm soát do lãnh đạo đơn vị xây dựng có tính chất bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong đơn vị. Vậy, hệ thống KSNB bao gồm cả KSNB và con ngƣời cùng với những phƣơng tiện có tính chất kỹ thuật, cấu trúc hƣớng vào kiểm soát mang tính bền vững, ổn định, đảm bảo và lâu dài. Hệ thống KSNB thƣờng đƣợc bản 9 thân các lãnh đạo đơn vị xây dựng, thiết lập hƣớng vào kiểm soát các hoạt động trong phạm vi và trách nhiệm của đơn vị [8].
Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ Theo tài liệu của COSO, hệ thống KSNB đƣợc thiết lập nhằm đảm bảo các mục tiêu sau: Thứ nhất, tài sản của đơn vị phải đƣợc bảo vệ. Tài sản ở đây có thể là vô hình, hữu hình, có thể là vật chất hoặc phi vật chất. Chúng có thể bị đánh cắp, bị lạm dụng vào các mục đích khác nhau hoặc bị hƣ hại nếu không đƣợc bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp. Thứ hai, các thông tin phải đảm bảo độ tin cậy.
Thông tin là căn cứ quan trọng để hình thành các quyết định quản lý. Vì vậy, thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy về thực trạng hoạt động đồng thời phản ánh đầy đủ, khách quan các nội dung chủ yếu của các hoạt động kinh tế tài chính. Thứ ba, bảo đảm việc tuân thủ các quy định pháp lý. Hệ thống KSNB đƣợc thiết kế trong các tổ chức sự nghiệp công phải đảm bảo luật pháp và các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động tổ chức, quản lý của đơn vị phải đƣợc tuân thủ đúng mức.
Thứ tƣ, bảo đảm hiệu quả của hoạt động, hiệu năng quản lý. Các quá trình kiểm soát trong đơn vị đƣợc thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực. Ngoài ra, định kỳ các nhà quản lý thƣờng đánh giá kết quả hoạt động trong đơn vị đƣợc thực hiện với cơ chế giám sát của hệ thống KSNB của đơn vị nhằm nâng cao khả năng quản lý điều hành của bộ máy quản lý [8]. Các nguyên tắc của hệ thống kiểm soát nội bộ theo Báo cáo COSO 2013 Trong khuôn mẫu báo cáo COSO 2013, 5 bộ phận cấu thành theo báo cáo COSO 1992 vẫn đƣợc giữ nguyên.
Tuy nhiên, trong nội dung chi tiết, có 10 một số thay đổi cho phù hợp với thay đổi của môi trƣờng kinh doanh, ngoài ra, nội dung căn bản của năm bộ phận đƣợc tổng hợp thành 17 nguyên tắc giúp nhà quản lý dễ dàng hơn trong việc thiết lập hệ thống KSNB. Nguyên tắc 1: Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về tính trung thực và giá trị đạo đức. Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị phải chứng tỏ sự độc lập với ngƣời quản lý và đảm nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành hệ thống KSNB. Nguyên tắc 3: Nhà quản lý dƣới sự giám sát của hội đồng quản trị cần thiết lập cơ cấu tổ chức, các loại báo cáo, phân định trách nhiệm và quyền hạn nhằm đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị.
Nguyên tắc 4: Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về việc sử dụng nhân viên có năng lực thông qua tuyển dụng, duy trì và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu của đơn vị. Nguyên tắc 5: Đơn vị cần yêu cầu các cá nhân chịu trách nhiệm báo cáo về trách nhiệm của họ trong việc đáp ứng các mục tiêu của tổ chức. Nguyên tắc 6: Đơn vị phải thiết lập mục tiêu rõ ràng và đầy đủ để giúp có thể nhận diện và đánh giá rủi ro phát sinh trong việc đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị. Các mục tiêu của đơn vị thƣờng thiết lập bao gồm: mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo tài chính và phi tài chính cho ngƣời bên ngoài và ngƣời bên trong, mục tiêu tuân thủ.
Nguyên tắc 7: Đơn vị phải nhận diện rủi ro trong việc đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị, tiến hành phân tích rủi ro để xác định các rủi ro cần đƣợc quản trị. Nguyên tắc 8: Đơn vị cần xem xét các loại gian lận tiềm tàng khi đánh giá rủi ro không đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị. Nguyên tắc 9: Đơn vị cần xác định và đánh giá những thay đổi của môi trƣờng ảnh hƣởng đến hệ thống KSNB. Các thay đổi bao gồm thay đổi từ môi trƣờng bên ngoài (kinh tế, chính trị,…), thay đổi cách thức kinh doanh (loại 11 kinh doanh mới, kỹ thuật mới,…), thay đổi cách thức quản lý, từ thái độ và triết lý của ngƣời quản lý về hệ thống KSNB.
Nguyên tắc 10: Đơn vị phải lựa chọn, thiết lập các hoạt động kiểm soát để giảm thiểu rủi ro, đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị ở mức độ có thể chấp nhận đƣợc. Nguyên tắc 11: Đơn vị lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát chung về công nghệ thông tin nhằm hỗ trợ cho việc đạt đƣợc các mục tiêu. Nguyên tắc 12: Đơn vị phải triển khai các hoạt động kiểm soát dựa trên các chính sách đã đƣợc thiết lập và triển khai thành các thủ tục. Nguyên tắc 13: Đơn vị phải thu thập (hay tự tạo) và sử dụng các thông tin thích hợp, có chất lƣợng nhằm hỗ trợ cho các bộ phận cấu thành khác của KSNB.
Nguyên tắc 14: Đơn vị phải truyền thông trong nội bộ những thông tin cần thiết nhằm hỗ trợ chức năng kiểm soát. Nguyên tắc 15: Đơn vị phải truyền thông cho các đối tƣợng bên ngoài các thông tin liên quan đến hoạt động và KSNB nhƣ cổ đông, chủ sở hữu, khách hàng, nhà cung cấp. Nguyên tắc 16: Đơn vị phải lựa chọn, triển khai và thực hiện việc đánh giá liên tục và/hoặc định kỳ nhằm đảm bảo rằng các bộ phận cấu thành của KSNB là hiện hữu và đang vận hành đúng. Nguyên tắc 17: Đơn vị phải đánh giá và thông báo những khiếm khuyết của KSNB kịp thời cho các đối tƣợng có trách nhiệm nhƣ nhà quản lý và hội đồng quản trị để có biện pháp khắc phục [2], [8].
Hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công 1. Khái quát về khu vực công 1. Khái niệm và các bộ phận hợp thành khu vực công Khu vực công vốn đƣợc xem là một khái niệm quan trọng trong các học thuyết kinh tế - chính trị. Xét ở góc độ kinh tế thì khu vực công là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng.
Nó bao gồm các bộ phận sản 12 xuất và phân phối đƣợc tài trợ bởi các cơ quan Nhà nƣớc. Xét theo nghĩa thì khu vực công bao gồm chính quyền trung ƣơng, chính quyền địa phƣơng, và các doanh nghiệp công hay còn gọi là các doanh nghiệp Nhà nƣớc. Nhƣ vậy, có thể nói, khu vực công là tổng thể các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng… thuộc sở hữu Nhà nƣớc do Nhà nƣớc đầu tƣ, cấp phát tài chính toàn bộ hay bộ phận quan trọng nhất, do Nhà nƣớc trực tiếp quản lý, tổ chức nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần, những dịch vụ công cộng phục vụ đời sống nhân dân và lợi ích toàn xã hội. Nền kinh tế thị trƣờng dù ở giai đoạn phát triển thấp hay cao, đều có những khuyết điểm nhất định của nó.
Chỉ có Nhà nƣớc thông qua khu vực công mới có thể bù đắp, sửa chữa những khuyết tật của thị trƣờng hoặc thực thi những chính sách làm giảm nhẹ những tác động tiêu cực do thị trƣờng gây ra. Khu vực công đƣợc hợp thành bởi khu vực Chính phủ và khu vực doanh nghiệp Nhà nƣớc. Khu vực Chính phủ bao gồm các đơn vị Chính phủ và các thể chế phi lợi nhuận, phi thị trƣờng đƣợc kiểm soát và tài trợ bởi Chính phủ. Những đơn vị chính bao gồm tất cả các đơn vị trong hệ thống bộ máy Nhà nƣớc từ trung ƣơng đến địa phƣơng thực hiện các chức năng của Chính phủ nhƣ là hoạt động cơ bản: Chịu trách nhiệm cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho cộng đồng dân cƣ trên cơ sở phi thị trƣờng; thực hiện các khoản thanh toán chuyển giao để tái phân phối thu nhập và của cải, đồng thời tài trợ cho các hoạt động của mình một cách trực tiếp và gián tiếp.
Khu vực này gồm Chính phủ trung ƣơng, chính quyền địa phƣơng và các quỹ bảo hiểm xã hội. Các doanh nghiệp Nhà nƣớc bao gồm công ty công tài chính và công ty công phi tài chính, là các đơn vị thể chế đủ tiêu chuẩn doanh nghiệp đƣợc chính quyền sở hữu và kiểm soát [1].