Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm soát nội bộ quy trình mua hàng — xuất kho Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại MHDI 10 và đánh giá kiểm soát nội bộ quy trình mua hàng — xuất kho Chương 4: Giải pháp và kiến nghị Kết luận CHUONG 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE HE THONG KIEM SOÁT NỘI BỘ VÀ KIEM SOÁT NOI BO CHU TRINH MUA HÀNG - XUẤT KHO 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu về KSNB trên thé giới Được hình thành sơ khai vào những năm 1900, những khái niệm và lý luận ban đầu về KSNB còn rất đơn giản, chủ yếu phục vụ trực tiếp cho việc kiểm toán các doanh nghiệp.
Thuật ngữ KSNB được đề cập ban đầu đến việc kiểm soát tiền. Phải đến năm 1936 thì khái niệm đầu tiên về KSNB mới được định nghĩa cụ thể bởi Hiệp hội Kiểm toán viên Công chứng My (AICPA), bổ sung định nghĩa kiểm soát nội bộ không chỉ bảo vệ tiền mà còn là công cụ để bảo vệ các tài sản khác và cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Đến nay, sau hơn một thế kỷ, có vô vàn các nghiên cứu về KSNB được thực hiện và áp dụng vào thực tiễn, KSNB không chỉ đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp thông tin cho các cuộc Kiểm toán mà ứng dụng của nó còn là nhân tố quan trọng trong Quản trị rủi ro doanh nghiệp, ngân hàng và các ngành nghề kinh doanh khác. Là một chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm của các chủ thể kinh tế, KSNB còn là một đề tài thú vị của các nghiên cứu về kinh tế trên thé giới.
Năm 2003, Ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán và các Dịch vụ đảm bảo quốc tế (IAASB - The International Auditing anh 5 Assurance Standard Board) thuộc Liên đoàn Kế toán Quốc tế đưa ra định nghĩa day đủ về hệ thống Kiểm soát nội bộ trong chuẩn mực kiểm toán ISA 315: “7à mội qua trình do bộ máy quan lý, Ban Giám đốc và các nhân viên của đơn vị chỉ phối, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu BCTC đáng tin cậy, pháp luật và các quy định được tuân thu, hoạt động hữu hiệu và hiệu quả ”. Sau hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, về co bản khung lý thuyết căn bản về KSNB đã day đủ và hoàn thiện. Trên thế giới, các nghiên cứu của các tô chức về KSNB có không ít các tác phẩm, có thé ké đến một số tác giả và tác phẩm như: Nghiên cứu của tác giả Robert Montgomery (1905) trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán” đã đề cập đến hệ thống kiểm tra nội bộ (System of internal check) là cơ sở ban đầu dé phát triển lên thành KSNB; Tác giả Lois D.Etherington và Irene M.Gordon trong tác phẩm “Internal controls in Canadian corporations” đã nghiên cứu hệ thống KSNB trên các khía cạnh kiểm soát quản lý, kiểm soát hoạt động và kiểm soát kế toán. Ngoài lĩnh vực kiểm toán, những nghiên cứu về KSNB trong mối quan hệ với quản trị doanh nghiệp cũng được các nhà nghiên cứu đề cập trong nhiều tác phẩm, có thể kế đến như: Tac giả Merchant,K.A (1985) về “Kiểm soát trong tổ chức kinh doanh”; Tác giả Anthony, R.N và Dearden, J Bedford (1989) về “Hệ thống kiểm soát quản lý”; Tác giả Bob Tricker (2009) về “Kiểm soát quản tri”).2 Tổng quan nghiên cứu trong nước Hệ thống KSNB được giới thiệu đầu tiên ở Việt Nam thông qua hệ thống các giáo trình về Kinh tế, Kế toán — Tài chính ở các trường đại học thuộc khối ngành Kinh tế.
Tiếp cận ban đầu dưới góc độ là công việc đầu tiên Kiểm toán viên cần làm khi tiến hành Kiểm toán một doanh nghiệp, KSNB được định nghĩa trong giáo trình “Ly thuyét Kiểm toán” của Học viện Tài chính do TS Nguyễn Viết Lợi và Ths Đậu Ngọc Chau chủ biên dé cập đến KSNB bao gồm ba thành phan là môi trường kiểm soát; hệ thống kế toán và thủ tục kiểm soát. Về cơ bản nội dung hệ thống KSNB được nghiên cứu và trình bày trong các giáo trình kiểm toán của các Trường đại học thuộc khối kinh tế là tương đối thống nhất với nhau. Cụ thê, theo Điều 39 Luật Kế toán số 88/2015/QH13, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 định nghĩa như sau: “KSNB là việc thiết lập và tô chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phủ hợp với quy định của Pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”. Theo khảo sát của tac gia, có một số đề tài khoa học cấp bộ, các luận án tiến sĩ về đê tài Kiêm soát nội bộ, có thê ví dụ một sô đê tài cụ thê là: Đề tài khoa học “Máng cao chất lượng công tác nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ các tập đoàn kinh tế Nhà nước trong quá trình kiểm toán do Kiểm toán Nhà nước tiến hành”, do GS.TS Ngô Thế Chi và TS Phạm Tiến Hưng đồng chủ nhiệm thực hiện năm 2013.TS Ngô Thế Chi nhận định việc trực tiếp kiểm tra, đánh giá và rà soát toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các Tập đoàn kinh tế Nhà nước là vô cùng khó khăn và phức tạp, vậy nên việc nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNB giúp các nhà quản trị có cái nhìn bao quát về hoạt động của toàn Tập đoàn, từ đó đưa ra các quy trình làm việc, giải pháp hoàn thiện và tối đa họa hiệu quả doanh nghiệp.
Thông qua việc khái quát hóa những van đề lý luận về KSNB, các đặc điểm thực tiễn tại các tập đoàn kinh tế Nhà nước là cơ sở cho công tác nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNB do Kiểm toán Nhà nước thực hiện. Tuy hệ thống KSNB chỉ là một nội dung trong đề tài nhưng đề tài cũng đã có hướng phân tích khá sâu về hệ thống KSNB dưới góc độ đánh giá hệ thống KSNB để phục vụ hoạt động kiểm toán khi thực hiện quá trình kiểm toán tại các TĐKT Nhà nước. Đề tài tập trung nghiên cứu, xác định mục tiêu, đối tượng, nội dung, tiêu chí nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNB của các TDKT Nhà nước cũng như xây dựng quy trình nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNB của các TDKT Nhà nước. Vì vậy, hệ thống KSNB được trình bày trong đề tài chưa thật đầy đủ trên các phương diện thiết lập và vận hành nhằm đối phó với các rủi ro của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, đề tài còn những hạn chế nhất định như còn mang tính lý luận. Các giải pháp đưa ra chưa có hướng dẫn cụ thê, các ví dụ, các thiết kế bảng biểu mang tính “cầm tay chỉ việc” chưa nhiều. Do đó việc ứng dụng ngay đề tài nghiên cứu vào thực tiễn kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước cũng cần có thời gian. Hơn nữa, có những ứng dụng chỉ phù hợp với kiểm toán độc lập, chưa thể áp dụng ngay với KTNN do tính đặc thù riêng của KTNN Luận án: “Ti6 chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toản trực thuộc Bộ Quốc phòng” - Trường Đại học Kinh tế quốc dân — Pham Bính Ngọ (năm 2011).
Luận án đã trình bày các vấn đề lý luận chung về hệ thống KSNB gắn liền với xu thế kinh tế mới hiện nay. Luận án đi sâu phân tích ảnh hưởng của đặc thù hoạt động quân sự (đặc điêm về cơ câu tô chức, vê tô chức điêu hành, vê hệ thong tài chính) trong các đơn vi dự toán trực thuộc BQP đến tổ chức hệ thống KSNB trong các đơn vị này, qua đó làm sáng tỏ hơn việc kiểm soát tài chính trong các đơn vị dự toán quân đội. Qua việc trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng tô chức hệ thong KSNB trong các don vi dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng, luận án là đã đưa ra một số giải pháp thông qua xem xét sự vận dụng các chính sách quản lý kinh tế tài chính của nhà nước trong hoạt động quân sự. Các phương án được đề xuất để hoàn thiện hệ thong KSNB phù hợp với đặc thù các don vi dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng nhằm mục dich tăng cường quản lý tài chính trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng.
Bên cạnh đó, luận án chưa đưa ra các phương án cụ thể nhằm ngăn ngừa rủi ro và sự gan liền của KSNB với việc quan tri rủi ro của các đơn vi dự toán trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Bên cạnh các luận án tiến sỹ, nghiên cứu về Hệ thống KSNB cũng có khá nhiều các luận văn thạc sĩ quan tam. Theo đó, phạm vi nghiên cứu và khảo sat, đánh giá thực trạng hệ thống KSNB trong hầu hết các luận văn thường tập trung nghiên cứu ở một số lĩnh vực, hoặc một qua trình, quy trình trong một don vi cụ thể. Có thé ké đến như luận văn thạc sĩ “Nhân tổ ảnh hưởng đến tính hiệu lực của kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại (NHIM) Việt Nam” năm 2018 của tác giả Nguyễn Thị Loan.
Luận văn dé cập đến những ly luận chung về KSNB, dựa trên cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu được xây dựng theo COSO 2013 về kiểm soát nội bộ, tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp và phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích phương sai thông qua phần mềm SPSS 20.0, từ đó đề xuất các khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ. Kết quả, ước lượng mô hình bằng phương pháp OLS đã cho thấy các nhân tố có ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng mạnh đến tính hiệu lực của kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại NHTM VN lần lượt là nhân tố giám sát rủi ro, thủ tục kiểm soát, thông tin truyền thông và môi trường kiểm soát. Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh “Kiểm soát nội bộ chỉ phí xây lắp tại công ty Cổ phan Xây lắp Công nghiệp Bình Dinh” năm 2013 của tác giả Trần Thi Thu Lệ.