CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trên thế giới, kiểm soát nội bộ đã ra đời từ đầu thế kỉ 19, xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, sau thất bại trong các cuộc kiểm toán không chỉ tại doanh nghiệp, mà còn tại các đơn vị sự nghiệp công lập, kiểm soát nội bộ ngày càng được quan tâm nhiều hơn nhằm phát hiện và ngăn chặn những gian lận và sai sót. Năm 1992, Ủy ban COSO đã đưa ra khuôn mẫu hướng dẫn cho kiểm soát nội bộ.
Trong bối cảnh hướng tới tự chủ toàn diện, các đơn vị sự nghiệp công lập đối diện với nhiều khó khăn trong kiểm soát nội bộ với nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước và thu sự nghiệp không dễ quản lý, kinh phí không được phân bổ phù hợp có thể dẫn tới tác động tiêu cực trong thúc đẩy sự phát triển của đơn vị sự nghiệp công lập. Bên cạnh đó, với quá trình nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, kiểm soát nội bộ dần dần trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của các đơn vị sự nghiệp, là lá chắn bảo vệ hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập vì hai mục tiêu song song, vừa hoàn thành mục tiêu vì cộng đồng, vừa hỗ trợ phát triển và vận hành trôi chảy hoạt động sự nghiệp của đơn vị. Kiểm soát nội bộ là biện pháp quan trọng ngăn ngừa phát hiện các sai phạm và yếu kém, giảm tối thiểu tổn thất, nâng cao hiệu quả đảm bảo sự tồn tại ổn định và phát triển bền vững của các đơn vị sự nghiệp công lập trong nền kinh tế. Bệnh viện K là đơn vị sự nghiệp trực công lập thuộc Bộ Y tế là tuyến cuối trong chẩn đoán và điều trị ung bướu.
Để đảm bảo cho hoạt động của bệnh viện, ngoài công tác chuyên môn, công tác quản lý nhân sự,….công tác quản lý tài chính trong bệnh viện cũng đóng vai trò to lớn trong việc phát triển bệnh viện. Trong những năm vừa qua cùng với sự lớn mạnh của bệnh viện đặc biệt là chuẩn bị cho đề án tự chủ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP của Chính phủ về việc thí điểm tự chủ đối với 04 bệnh viện thuộc Bộ Y Tế thì công tác tài chính cần đặc biệt quan tâm hơn nữa nhất là công tác kiểm soát nội bộ. Kiểm soát nội bộ hiện nay tại đơn vị còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý. Kiểm soát nội bộ chưa được quan tâm đúng mực, các quy chế quản lý nội bộ chưa đầy đủ, quy trình hoạt động chưa được cụ thể hóa bằng các 2 văn bản chính thức, nhiều nguyên tắc kiểm soát nội bộ bị vi phạm nên đã làm giảm hiệu lực của kiểm soát nội bộ.
Vì vậy, hoàn thiện kiểm soát nội bộ trong điều kiện hiện nay của Bệnh viện K là hết sức cần thiết. Thấy được tầm quan trọng của điều này, tác giả đã chọn nghiên cứu “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Bệnh viện K” làm đề tài luận văn thạc sĩ với mong muốn đi sâu nghiên cứu và tìm ra giải pháp hướng tới hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Bệnh viện K. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tính đến nay, đã có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu kiểm soát nội bộ trên những khía cạnh và lĩnh vực khác nhau. Năm 1992, các công ty ở Hoa Kỳ phát triển nhanh kèm theo đó là làm gia tăng tình trạng gian lận, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế.
Nhiều ủy ban đã ra đời để tìm cách khắc phục và ngăn chặn tình trạng gian lận trong đó có Ủy ban COSO (committee of Sponsoring Organizations) là một ủy ban gồm nhiều tổ chức nghề nghiệp đã đưa ra khuôn mẫu lý thuyết chuẩn cho kiểm soát nội bộ. Báo cáo của COSO gồm 4 phần và là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu một cách đầy đủ về kiểm soát nội bộ, làm nền tảng cho lý thuyết về kiểm soát nội bộ sau này. Về kiểm soát nội bộ đối với đơn vị sự nghiệp công lập, Renor Antonio Antunes Ribeiro (2020) nghiên cứu về kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro tại các tổ chức chăm sóc sức khỏe công lập. Những thay đổi liên tục về công nghệ, cũng như các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần đây, đã khiến các tổ chức phải phát triển các cơ chế quản trị của mình, nhằm giảm thiểu rủi ro và quản lý tốt hơn các sự kiện gây ra tác động tiêu cực.
Trong lĩnh vực y tế, người ta thường xuyên lo lắng về năng lực và xem xét nguy cơ sụp đổ trong hệ thống do sự xuất hiện của các đại dịch mới. Thật vậy, một số tổ chức quốc tế đã nỗ lực xây dựng các quy định để quản lý tất cả các rủi ro có thể gây nguy hiểm cho hoạt động của các tổ chức, cho dù đó là tổ chức công hay tư. Kiểm toán nội bộ là một thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ cơ bản để quản lý rủi ro, hệ thống kiểm soát này phải thực hiện các hoạt động của mình phù hợp với các tiêu chuẩn và quy định pháp luật quốc tế, đánh giá việc quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ của tổ chức. İlknur ESKİN (2020) đánh giá hiệu quả của kiểm soát nội bộ đối với các bệnh viện.
Nghiên cứu hướng tới xem xét các quy trình của các bệnh viện theo các thành phần của mô hình kiểm soát nội bộ COSO. Sead Ujkani và Nexhmie Berisha Vokshi (2019) tổng quát nghiên cứu về sự phát triển của kiểm soát nội bộ trong các tổ chức công tại Kosovo. Nghiên cứu chỉ ra việc xây dựng và thực hiện kiểm soát tài chính nội 3 bộ trong các quy trình quản lý đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp hệ thống quản lý tài chính lành mạnh, minh bạch, hiệu quả và hiệu lực trong các đơn vị thuộc khu vực công.Ana Cristina Vaz Pires Morim và cộng sự (2018) nghiên cứu kiểm soát nội bộ trong một bệnh viện công lập. Theo nghiên cứu, kiểm soát nội bộ đang nhận được sự quan tâm ngày càng nhiều ở cấp hành chính sự nghiệp công bao gồm các bệnh viện công lập.
Kiểm soát nội bộ được xem như một công cụ đặc quyền để quản lý, điều hành và kiểm soát, giúp tăng hiệu quả và hiệu lực, độ tin cậy của thông tin cao hơn và tuân thủ các tiêu chuẩn pháp luật. Nunuy Nur Afiah và Peny Cahaya Azwari (2015) nghiên cứu ảnh hưởng của việc thực hiện Hệ thống Kiểm soát Nội bộ của Chính phủ (GICS) đến chất lượng báo cáo tài chính của chính quyền địa phương và tác động đối với các nguyên tắc quản trị tốt, lấy trường hợp tại chính quyền cấp huyện, thành phố và cấp tỉnh. Theo nghiên cứu, tăng cường trách nhiệm giải trình của khu vực công là yếu tố quan trọng của các chính sách của chính phủ và sự phù hợp của chúng với quản trị có thể cải thiện chất lượng báo cáo tài chính và củng cố nền tảng nội bộ. Nghiên cứu nhằm mục đích xác minh ảnh hưởng của kiểm soát nội bộ đối với chất lượng báo cáo tài chính và tác động của nó đến chất lượng quản trị của khu vực công.
Với đối tượng nghiên cứu là khu vực công, kết quả cho thấy thông qua chất lượng báo cáo tài chính, kiểm soát nội bộ có tác động tốt hơn, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng quản trị. Tổ chức INTOSAI (2013) thực hiện hướng dẫn các tiêu chuẩn kiểm soát nội bộ đối với các tổ chức công trên các nội dung môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Asante Effah (2011) thực hiện đánh giá kiểm soát tài chính nội bộ tại các bệnh viện công lập vùng, bệnh viện công lập tuyến tỉnh, tuyến quận trên phương diện trách nhiệm của các bộ phận Tài chính, kiểm toán nội bộ và cơ quan quản lý bên ngoài. Thông qua dữ liệu thu thập từ 25 nhân viên tại 3 bệnh viện, nghiên cứu kéo dài 6 tháng đã phát hiện ra rằng mức độ tuân thủ cao đối với các quy định quản lý tài chính và kiểm toán nội bộ là điều rất đáng khen ngợi và phải được khuyến khích.
Nghiên cứu chỉ ra sự tuân thủ chặt chẽ đối với kiểm soát tài chính nội bộ có thể làm giảm khối lượng công việc của kiểm toán viên. Nghiên cứu khuyến nghị Nghiên cứu khuyến nghị sự tồn tại và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ phải có hiệu quả, hệ thống COSO nên được sử dụng trực tiếp như một hệ thống chuẩn mực bắt buộc đối với các tổ chức công. Tại Việt Nam, lý luận về kiểm soát nội bộ đưa vào trong chương trình giảng dạy trong các trường học và cũng được đề cập đến trên các tờ báo và tạp chí kiểm toán. Phan Thị Thái Hà (2020) nghiên cứu ảnh hưởng của kiểm soát nội bộ tới hiệu lực 4 quản lý tài chính đại học vùng tại Việt Nam, với số liệu và điều tra khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, giám sát tại đại học Thái Nguyên.
Phạm Thu Hương (2020) nghiên cứu về tăng cường quản lý tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp bằng hệ thống kiểm soát nội bộ. Từ đó nghiên cứu đã đề xuất một số nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ hướng đến tăng cường quản lý tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp như chủ trương chính sách, cơ chế quản lý tài chính, đội ngũ quản lý nội bộ, trình độ chuyên môn của cán bộ tài chính kế toán. Nguyễn Đức Thọ (2015) nghiên cứu đổi mới hoạt động kiểm soát nội bộ có sử dụng ngân sách, tài sản nhà nước tại các cơ quan hành chính, sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính. Nghiên cứu đã đề cập đến một số tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động kiểm soát nội bộ về sử dụng ngân sách, tài sản nhà nước tại các cơ quan hành chính, sự nghiệp phù hợp với thực trạng các đơn vị tại Việt Nam.
Luận án kiến nghị Bộ Tài chính cần sớm ban hành Quy chế kiểm soát nội bộ về sử dụng ngân sách nhà nước tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Bên cạnh đó, kiểm soát nội bộ đang ngày càng được quan tâm bởi thủ trường các cấp, tuy nhiên cần có bộ máy thực thi nhiệm vụ kiểm soát nội bộ tại đơn vị. Phạm Hồng Thái (2011) thực hiện nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của ngành Y tế tỉnh Long An.