CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KBNN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI NSNN 1. NSNN và chi NSNN a. Khái niệm NSNN Ngân sách Nhà nước (NSNN) là một phạm trù kinh tế lịch sử gắn liền với sự ra đời của Nhà nước, gắn liền với kinh tế hàng hoá - tiền tệ.
Qua chắt lọc, đúc kết từ những kinh nghiệm và thực tế hình thành NSNN của các nước trên thế giới; ứng với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lịch sử Việt Nam và điều kiện kinh tế của Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng Luật NSNN trong đó NSNN được quy định như sau: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. (Khoản 14, điều 4,Luật NSNN số 83/2015/QH13) NSNN phản ánh mối qua hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể kinh tế-xã hội trong phân phối tổng sản phẩm xã hội thông qua việc tạo lập sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể thụ hưởng nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. NSNN là nơi biểu hiện tập trung nhất các mối quan hệ kinh tế. Hoạt động của NSNN không hề mang tính tự phát hoặc nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nước Luan van 11 b.
Chi NSNN - Khái niệm Chi NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính tập trung được vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị và xã hội của Nhà nước trong từng công việc cụ thể. Chi NSNN có quy mô rộng và mức độ rộng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực, tại các địa phương và các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước. - Vai trò chi NSNN Thứ nhất, chi thường xuyên có tác động trực tiếp đến đến việc thực hiện các chức năng của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước. Thứ hai, chi thường xuyên là công cụ để Nhà nước thực hiện mục tiêu ổn định và điều chỉnh thu nhập, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, thực hiện các chính sách xã hội… góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội.
Thứ ba, thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện điều tiết, điều chỉnh thị trường để thực hiện các mục tiêu của Nhà nước. Thứ tư, chi thường xuyên là công cụ ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh. - Đặc điểm chi NSNN Trong mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử, chi NSNN mang những nội dung cơ cấu khác nhau, song chúng đều có cùng những đặc điểm sau: Thứ nhất, chi NSNN luôn gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước phải đảm đương trong thời kỳ. Nhà nước với bộ máy càng lớn thì phải đảm đương càng nhiều nhiệm vụ thì mức độ và phạm vi chi của NSNN càng lớn.
Thứ hai, các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ Luan van 12 mô. Điều đó có nghĩa là các khoản chi của NSNN phải được xem xét một cách toàn diện dựa trên cơ sở của việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra. Thứ ba, các khoản chi của NSNN mang tính không hoàn trả trực tiếp. Điều này được thể hiện qua việc các tổ chức hoặc cá nhân nhận được vốn, kinh phí từ NSNN không phải ghi nợ, và cũng không phải hoàn trả lại một cách trực tiêp cho ngân sách.
Mặt khác, không phải mọi khoản thu với mức độ, số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới các khoản chi của NSNN. Phân loại chi NSNN Chi NSNN bao gồm: Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật ( Điều 4, Luật NSNN 2015). Có nhiều tiêu thức để phân loại các khoản chi NSNN, song tựu chung lại có thể sắp xếp theo những tiêu thức phân loại chủ yếu sau: a. Căn cứ vào lĩnh vực chi của NSNN, chi NSNN được phân thành + Chi cho phát triển văn hoá, giáo dục, y tế xã hội; + Chi cho quốc phòng, an ninh như: chi xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, vũ khí; chi trực tiếp cho đội ngũ sĩ quan, chiến sĩ; chi thường xuyên cho các lực lượng quốc phòng, an ninh thực hiện nhiệm vụ; + Chi cho phát triển kinh tế như chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như: giao thông, thuỷ lợi, điện, hệ thống thông tin liên lạc …; chi đầu tư trực tiếp cho một số ngành kinh tế then chốt, mũi nhọn của nền kinh tế; các khoản chi khác như: chi cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ… + Chi cho nhiệm vụ đối ngoại như việc đóng góp vào các quỹ Tài chính Quốc gia; chi phí cho đoàn ra, đoàn vào; chi cho việc tổ chức hội nghị, giao Luan van 13 lưu quốc tế… b.
Căn cứ theo yếu tố, chi NSNN được phân chia thành các khoản chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển - Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Các khoản chi thường xuyên gồm có các khoản chi cơ bản sau: + Chi sự nghiệp kinh tế: Trong nền kinh tế, hoạt động sự nghiệp kinh tế rất đa dạng như hoạt động khảo sát, thăm dò; hoạt động thúc đẩy ứng dụng khoa học kỹ thuật; hoạt động nông lâm nghiệp, thuỷ lợi, công cộng … tất cả các hoạt động sự nghiệp này với mục đích là nhằm phục vụ cho yêu cầu hoạch định và phát triển kinh tế. Vì vậy cần phải có sự tài trợ của Nhà nước tạo điều kiện vật chất để các đơn vị sự nghiệp kinh tế hoạt động có hiệu quả. Xét về mặt nội dung khoản chi sự nghiệp kinh tế từ NSNN bao gồm: Chi lương và phụ cấp lương; Chi mua sắm nguyên vật liệu, mua sắm, sửa chữa duy tu các phương tiện làm việc trong các đơn vị sự nghiệp … + Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo: Đây là một trong những khoản chi quan trọng nó gắn liền với việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, gắn liền với tiến bộ khoa học kỹ thuật, phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội.
Về nội dung chi sự nghiệp giáo dục đào tạo bao gồm: chi cho giáo dục phổ thông, phổ thông dân tộc nội trú; chi về đào tạo sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề và các hình thức đào tạo, bồi dưỡng khác. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật, công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì các khoản chi cho giáo dục đào tạo có ý nghĩa hết sức quan trọng và có xu hướng chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng chi NSNN. + Chi về nghiên cứu khoa học và công nghệ: để nhanh chóng tiếp cận Luan van 14 với nền khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới, ứng dụng cho mục tiêu phát triển kinh tế thì việc đầu tư cho nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ là vô cùng cần thiết. Nội dung chi này bao gồm: chi cho mạng lưới các cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ như các trung tâm nghiên cứu khoa học, các viện, phân viện khoa học và công nghệ … + Chi về sự nghiệp y tế: đây là khoản chi chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi thường xuyên của NSNN.
Bên cạnh nguồn kinh phí của NSNN còn huy động nhiều nguồn thu khác như: viện phí, bảo hiểm y tế… nhằm tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các cơ sở y tế, nâng cao chất lượng hoạt động khám, chữa bệnh cho nhân dân. Nội dung chi cho sự nghiệp y tế bao gồm: chi phòng bệnh, chữa bệnh, chi cho các chương trình trọng điểm của ngành y tế và các khoản chi sự nghiệp y tế khác. + Chi sự nghiệp văn hoá - xã hội, thể dục thể thao: Đây là lĩnh vực hoạt động phong phú, đa dạng. Mục tiêu của các hoạt động này nhằm nâng cao tri thức, thẩm mỹ cho mọi tầng lớp dân cư cũng như đảm bảo đời sống của người lao động khi gặp khó khăn, tai nạn, già yếu, trợ cấp cho các đối tượng chính sách, người nghèo neo đơn, chi giúp đỡ nhân dân ở những vùng xảy ra thiên tai và những sự cố bất ngờ.
+ Chi quản lý hành chính Nhà nước và tổ chức chính trị, chính trị xã hội: Đây là các khoản chi nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến Địa phương, tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội. Nội dung chi quản lý hành chính Nhà nước bao gồm: Cho hoạt động của bộ máy Nhà nước như: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp …; chi cho hoạt của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội: Đảng, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên … + Chi cho quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội: đây là những Luan van 15 khoản chi nhằm đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo trật tự an toàn xã hội góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế, xã hội. Nội dung các khoản chi này bao gồm: chi đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần, chính sách cho lực lượng vũ trang; chi trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật; chi đào tạo, huấn luyện và nghiên cứu khoa học kỹ thuật; các khoản chi khác cho an ninh, quốc phòng.