phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát chi đầu tƣ xây dựng cơ bản tại các ban quản lý dự án. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát chi đầu tƣ XDCB tại Ban Quản lý dự án đầu tƣ xây dựng và Phát triển quỹ đất huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi đầu tƣ XDCB tại Ban Quản lý dự án đầu tƣ xây dựng và Phát triển quỹ đất huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. 8 e CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI CÁC BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN 1.
TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1. Một số khái niệm liên quan Khái niệm về kiểm soát Có khá nhiều quan điểm khác nhau về kiểm soát, tùy theo cách tiếp cận: - Xem kiểm soát nhƣ là một quá trình: Theo Anthony và Govindarajan (2004) thì: Kiểm soát là một quá trình các nhà quản lý tác động tới các thành viên khác trong tổ chức để thực hiện mục tiêu của tổ chức. Hay theo Nguyễn Thị Phƣơng Hoa (2011) cho rằng: “Kiểm soát là quá trình đo lƣờng, đánh giá và tác động lên đối tƣợng kiểm soát nhằm bảo đảm mục tiêu của tổ chức đƣợc thực hiện một cách có hiệu quả”[19]. - Trên quan điểm nhấn mạnh đến cách thức hoạt động: Thái Bá Cẩn (2009) cho rằng: Kiểm soát đƣợc hiểu là tổng hợp các phƣơng sách để hiểu và điều hành các đối tƣợng hoặc khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức đề ra[8].
- Theo quan điểm nhấn mạnh đến vai trò của kiểm soát: Theo Nguyễn Thị Phƣơng Hoa (2011) thì kiểm soát đƣợc coi nhƣ là một chức năng của quản lý, ảnh hƣởng liên quan đến hành vi của con ngƣời, bởi vì con ngƣời tạo ra mọi thứ trong tổ chức. Hay nói cách khác, kiểm soát liên quan đến các nhà quản lý thực hiện một loạt các bƣớc để đảm bảo rằng những ngƣời trong tổ chức sẽ làm những việc tốt nhất cho tổ chức[19]. Nhƣ vậy, có thể thấy: Kiểm soát đƣợc xem là một công cụ quan trọng của các nhà quản lý. Kiểm soát đƣợc định nghĩa nhƣ là một quá trình “giữ cho mọi thứ đi đúng hƣớng và đƣợc nhận biết nhƣ là một chức năng cuối cùng của 9 e quá trình quản lý, giúp cho các mục tiêu của tổ chức đƣợc thực hiện một cách hiệu quả nhất [22].
Chức năng của kiểm soát - Kiểm soát là chức năng không thể thiếu trong quá trình quản lý của 1 tổ chức: + Kiểm soát giúp cho các tổ chức sớm thích nghi với sự thay đổi của môi trƣờng. + Kiểm soát là cần thiết để giúp nhà quản lý giám sát các hoạt động nội bộ của đơn vị khi mà tính phức tạp của tổ chức khiến cho nhà quản lý không thể thấu hiểu hết những gì đang xảy ra bên trong đơn vị. + Kiểm soát là cách thức để tránh đƣợc các sai lầm hay các vấn đề nhỏ xảy ra có thể dẫn đến các sai lầm tai hại hơn [22]. - Mục đích của kiểm soát thực sự cần thiết và có vai trò quan trọng trong một tổ chức: + Bảo đảm kết quả đạt đƣợc phù hợp với mục tiêu của tổ chức + Bảo đảm nguồn lực của tổ chức đƣợc sử dụng hiệu quả + Phát hiện kịp thời các vấn đề và có sự điều chỉnh phù hợp - Trong một tổ chức, nếu hoạt động kiểm soát quá nghèo nàn có thể dẫn đến nguồn lực bị dùng một cách lãng phí, ngƣời lao động không hoàn thành nhiệm vụ đề ra, thực hiện các hành vi gian lận, khách hàng không hài lòng về chất lƣợng sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp…Ngƣợc lại, nếu kiểm soát quá chặt chẽ sẽ lại tỏ ra phản tác dụng do làm giảm tính linh hoạt và sự cải tiến sáng tạo trong tổ chức, đồng thời, có thể làm tăng chi phí hoạt động và tạo ra nhiều áp lực cho nhân viên.
Do vậy nhà quản lý cần duy trì sự cân bằng giữa tính ổn định và tính linh hoạt thông qua kiểm soát rất quan trọng và luôn đƣợc coi là thách thức lớn cho tổ chức. Tổ chức cần phải nhận biết, đo lƣờng và đánh giá đƣợc những thay đổi trong môi trƣờng bên trong và bên ngoài, từ đó thay đổi cơ chế kiểm soát cho thích hợp [22]. 10 e Khái niệm KSNB trong khu vực công Hƣớng dẫn chuẩn mực của KSNB của INTOSAI (1992) đƣa ra định nghĩa vềKSNB nhƣ sau: “KSNB trong khu vực công là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phƣơngpháp, quy trình và các biện pháp của ngƣời lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạtđƣợc các mục tiêu của tổ chức”: INTOSAI (2013) đƣợc phát triển dựa trên nền tảng của INTOSAI (1992). Tuynhiên, INTOSAI (2013) đƣợc bổ sung sửa đổi và cụ thể hóa một số nội dung sau: Đƣa ra những yêu cầu cần phải tuân thủ, còn việc lựa chọn những kiểm soát nào để đạt đƣợc yêu cầu là tùy thuộc vào sự xét đoán của nhà quản lý vànhững đặc điểm riêng của đơn vị.
INTOSAI 2013 bổ sung những yêu cầu của một hệ thống KSNB hữu hiệulà phải đảm bảo 5 bộ phận và các nguyên tắc tƣơng ứng phải vận hành trên thựctế. Không thể lấy sự hữu hiệu của bộ phận này để bù đắp cho sự yếu kém haykhông tồn tại của bộ phận khác. Những nội dung cơ bản liên quan đến 5 bộ phận của KSNB đƣợc tổng hợpthành 17 nguyên tắc KSNB. Mở rộng phần thảo luận về quản trị doanh nghiệp nhất là các vấn đề liênquan đến Hội đồng quản trị và các Ủy ban nhƣ: Ủy ban kiểm toán Ủy ban lƣơngthƣởng.
Đặc biệt INTOSAI 2013 thừa nhận vai trò ngày càng quan trọng củaCNTT ảnh hƣởng tới hoạt động kinh doanh và KSNB của mỗi DN cũng nhƣ kỳvọng ngày càng cao của các đối tƣợng bên ngoài doanh nghiệp về năng lực quảnlý về trách nhiệm giải trình và về việc phòng chống gián lận. Khái niệm về kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng cơ bản Kiểm soát là bao gồm các hoạt động giám sát quá trình thực hiện, so sánh với các tiêu chuẩn và chọn ra cách thức đúng. Bản chất cơ bản của kiểm soát còn đƣợc hiểu rõ hơn trong các giai đoạn chủ yếu của toàn bộ quá trình 11 e quản lý từ việc lập kế hoạch và xây dựng các mục tiêu có liên quan [8]. Do vậy kiểm soát không thể tồn tại nếu không có các mục tiêu.
Chức năng kiểm soát tồn tại nhƣ một “khâu” độc lập của quá trình quản lý nhƣng đồng thời lại là một bộ phận chủ yếu của quá trình đó. Chức năng này đƣợc thể hiện khác nhau tùy thuộc vào cơ chế kinh tế, cấp quản lý và loại hình cụ thể. Các loại hình kiểm soát: - Căn cứ theo nội dung của kiểm soát: kiểm soát hành chính và kiểm soát kế toán. - Căn cứ vào mục tiêu của kiểm soát: kiểm soát ngăn ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát điều chỉnh.
- Căn cứ vào thời điểm thực hiện trong quá trình tác nghiệp: kiểm soát trƣớc. Kiểm soát chi là công cụ quản lý để đảm bảo đồng tiền bỏ ra hợp lý nhất, tiết kiệm nhất với mục đích cuối cùng là sử dụng tối ƣu hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Vì vậy để đảm bảo sử dụng nguồn vốn đầu tƣ hiệu quả thì công tác kiểm soát đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục trong suốt quá trình đầu tƣ xây dựng dự án, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ, thực hiện đầu tƣ đến kết thúc đầu tƣ đƣa dự án hoàn thành vào khai thác sử dụng[8]. Vậy kiểm soát chi vốn đầu tƣ XDCB là việc kiểm tra, xem xét các căn cứ, điều kiện cần và đủ theo quy định của Nhà nƣớc để xuất quỹ NSNN chi trả theo yêu cầu của chủ đầu tƣ các khoản kinh phí thực hiện dự án, đồng thời phát hiện và ngăn chặn các khoản chi trái với quy định hiện hành[8].
Bản chất kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng cơ bản Kiểm soát chi vốn đầu tƣ XDCB là việc Ban Quản lý dự án thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát toàn bộ các hoạt động, các khoản chi từ NSNN cho đầu tƣ xây dựng công trình, mua sắm, lắp đặt trang thiết bị gắn với công trình XDCB,. đảm bảo chi đúng đối tƣợng, đúng mục tiêu của dự án đƣợc phê duyệt, các khoản chi phải theo đúng chế độ quản lý hiện hành, đúng định 12 e mức, đơn giá XDCB đƣợc cấp có thẩm quyền ban hành. Việc cấp phát kinh phí ngân sách Nhà nƣớc đƣợc thực hiện theo điều 56 Luật Ngân sách Nhà nƣớc: - Căn cứ vào dự toán ngân sách Nhà nƣớc đƣợc giao, các đơn vị sử dụng ngân sách lập kế hoạch chi gửi cơ quan tài chính cùng cấp và Kho bạc Nhà nƣớc nơi giao dịch để chủ động bố trí kinh phí[8]; - Cơ quan tài chính xem xét kế hoạch chi của đơn vị và căn cứ vào khả năng ngân sách để bố trí mức chi hàng quý, thông báo cho đơn vị để thực hiện; - Căn cứ vào mức chi do cơ quan tài chính thông báo, thủ trƣởng đơn vị sử dụng ngân sách ra lệnh chuẩn chi, Kho bạc Nhà nƣớc kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật và thực hiện việc cấpphát, thanh toán[8]; - Mọi khoản chi ngân sách Nhà nƣớc đƣợc thực hiện khi có đủ các điều kiệnquy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật NSNN và theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp từKho bạc Nhà nƣớc. Bộ trƣởng Bộ Tài chính hƣớng dẫn cụ thể việc thực hiệnnguyên tắc này[10].2 Đặc điểm của chi đầu tƣ xây dựng cơ bản.
Chi đầu tƣ XDCB là một khoản chi lớn trong tổng cầu của nền kinh tế. Mức độ chi, mục đích chi sẽ có tác động rất lớn và tức thời tới đến tổng chi NSNN, đến quan hệ cân đối giữa thu - chi ngân sách và do đó đến các chính sách về thuế, vay nợ, cũng nhƣ ảnh hƣởng đến các chính sách xã hội khác. Hầu hết công tác kiểm soát chi đầu tƣ XDCB đều đƣợc thông qua hệ thống KBNN từ năm 2000 đến nay[19]. Nguồn hình thành nên NSNN chủ yếu là từ nguồn thu thuế của các chủ thể trong nền kinh tế, nguồn vay nợ của Chính phủ nên chi NSNN cho đầu tƣ XDCB có mối quan hệ chặt chẽ, tác động trực tiếp đến hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế.
Việc quản lý, kiểm soát chi đầu tƣ XDCB từ NSNN gắn với quản lý và sửdụng vốn theo phân cấp.