Chương 1: Lý luận chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Miền đông. Chương 3: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Miền đông. Quảng Ninh, ngày … tháng… năm 2016 Sinh viên Trần Thị Nhã SV Trần Thị Nhã 1 Khoa TCKT Trường Đại học Hòa Bình GVHD: TS Trần Thế Nữ CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Cơ sở lý luận về tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng trong doanh nghiệp. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp. Kế toán là một công cụ dụng cụ phục vụ quản lý kinh tế, gắn liền với hoạt động quản lý đã xuất hiện cùng với sự hình thành đời sống loài ngƣời. Theo quy định tái sản xuất trong doanh nghiệp công nghiệp bao gồm các quá trình sản xuất, phân phối, tiêu thụ, các giai đoạn này đƣợc diễn ra một cách tuần tự.
Sau khi kết thúc một quá trình sản xuất sản phẩm, doanh nghiệp đƣa sản phẩm sản xuất ra thị trƣờng tiêu thụ, nghĩa là thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm đó. Trong cơ chế thị trƣờng cạnh tranh gay gắt hiện nay, sự sống còn của sản phẩm chính là sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Việc bán sản phẩm là một yếu tố khách quan nó không chỉ quyết định sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp mà còn đảm bảo đời sống cho công nhân, ngƣời lao động sản xuất ra sản phẩm đó. Tiền lƣơng là một phạm trù kinh tế phức tạp mang tính lịch sử chính trị và có ý nghĩa xã hội to lớn.
Nhƣng ngƣợc lại bản thân tiền lƣơng cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của xã hội, tƣ tƣởng chính trị. Cụ thể là trong xã hội tƣ bản chủ nghĩa tiền lƣơng là sự biểu hiện bằng tiền của sức lao động, là giá cả của sức lao động biểu hiện ra bên ngoài sức lao động. Còn trong xã hội chủ nghĩa tiền lƣơng là giá trị một phần vật chất trong tổng sản phẩm xã hội dùng để phân phối cho ngƣời lao động theo nguyên tắc làm theo năng lực, hƣởng theo lao động. Tiền lƣơng mang một ý nghĩa tích cực tạo ra sự công bằng trong phân phối thu nhập quốc dân.
SV Trần Thị Nhã 2 Khoa TCKT Trường Đại học Hòa Bình GVHD: TS Trần Thế Nữ 1. Khái niệm tiền lương và các khoản trích theo lương. Tiền lương Theo quan niệm của Mác: Tiền lƣơng là biểu hiện sống bằng tiền của giá trị sức lao động. Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền lƣơng là giá cả của lao động, đƣợc xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trƣờng lao động.
Ở Việt Nam trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, tiền lƣơng đƣợc hiểu là một bộ phận thu nhập quốc dân dùng để bù đắp hao phí lao động tất yếu do Nhà nƣớc phân phối cho công nhân viên chức bằng hình thức tiền tệ, phù hợp với quy luật phân phối theo lao động. Hiện nay theo Điều 55 – Bộ Luật Lao Động Việt Nam quy định tiền lƣơng của ngƣời lao động là do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và đƣợc trả theo năng suất lao động, chất lƣợng và hiệu quả công việc. Tiền lƣơng là một bộ phận của sản phẩm xã hội biểu hiện bằng tiền đƣợc trả cho ngƣời lao động dựa trên số lƣợng và chất lƣợng lao động của mọi ngƣời dùng để bù đắp lại hao phí lao động của họ và nó là một vấn đề thiết thực đối với cán bộ công nhân viên. Tiền lƣơng đƣợc quy định một cách đúng đắn, là yếu tố kích thích sản xuất mạnh mẽ, nó kích thích ngƣời lao động ra sức sản xuất và làm việc, nâng cao trình độ tay nghề, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động.
Ngƣời lao động sau khi sử dụng sức lao động tạo ra sản phẩm thì đƣợc trả một số tiền công nhất định. Xét về hiện tƣợng ta thấy, sức lao động đƣợc đem ra trao đổi để lấy tiền công. Vậy có thể coi sức lao động là hàng hóa, một loại hàng hóa đặc biệt. Và tiền lƣơng chính là giá cả của hàng hóa đặc biệt đó, hàng hóa sức lao động.
Vì hàng hóa sức lao động cần đƣợc đem ra trao đổi trên thị trƣờng lao động trên cơ sở thỏa thuận giữa ngƣời mua và ngƣời bán, chịu sự tác động của quy luật giá trị, quy luật cung cầu. Do đó giá cả sức lao động sẽ biến đổi theo giá cả của các yếu tố cấu thành cũng nhƣ quan hệ cung cầu về lao động. Nhƣ vậy, khi coi tiền công là giá trị của lao động thì giá cả này sẽ hình thành trên cơ sở thảo thuận giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động. Giá cả sức lao động hay tiền công có thể tăng hoặc giảm phụ thuộc vào cung cầu hàng hóa sức lao động.
Nhƣ vậy giá cả tiền công SV Trần Thị Nhã 3 Khoa TCKT Trường Đại học Hòa Bình GVHD: TS Trần Thế Nữ thƣờng xuyên biến động, nhƣng nó phải xoay quanh giá trị sức lao động cũng nhƣ các loại hàng hóa thông thƣờng khác, nó đòi hỏi một cách khách quan yêu cầu tính đúng, tính đủ giá trị của nó. Mặt khác giá tiền công có biến động nhƣ thế nào thì củng phải đảm bảo mức sống tối thiểu, để ngƣời lao động có thể tồn tại và tiếp tục lao động. Các khoản trích theo lương Gắn chặt với tiền lƣơng là các khoản trích theo lƣơng gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn. Đây là các quỹ xã hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đối với ngƣời lao động.
Trong trƣờng hợp ngƣời lao động tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động nhƣ khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn … khoản trợ cấp nhằm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, đó là khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội. BHXH chính là các khoản tính vào chi phí để hình thành lên quỹ BHXH, sử dụng để chi trả cho ngƣời lao động trong những trƣờng hợp tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động. Khoản chi trợ cấp BHXH cho ngƣời lao động khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động. đƣợc tính trên cơ sở lƣơng, chất lƣợng lao động và thời gian mà ngƣời lao động đã cống hiến cho xã hội trƣớc đó.
Nhằm xã hội hóa việc khám chữa bệnh, ngƣời lao động còn đƣợc hƣởng chế độ khám chữa bệnh bao gồm các khoản trợ cấp về viện phí, thuốc men, khi bị ốm đau. Điều kiện để ngƣời lao động đƣợc trợ cấp tiền khám chữa bệnh là ngƣời lao động phải có thẻ BHYT. Thẻ BHYT đƣợc mua từ tiền trích BHYT. Đây là chế độ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời lao động.
Đối với ngƣời lao động, bảo hiểm thất nghiệp vừa giúp đỡ họ ổn định cuộc sống khi bị mất việc làm thông qua việc trả trợ cấp thất nghiệp, vừa tạo cơ hội để họ có thể tiếp tục tham gia thị trƣờng lao động. Tạo ra chỗ dựa về vật chất và tinh thần cho ngƣời lao động khi lâm vào tình trạng mất việc làm. Ngoài ra để phục vụ cho hoạt động của tổ chức công đoàn đƣợc thành lập theo luật công đoàn, doanh nghiệp phải trích theo tỉ lệ quy định trên tiền lƣơng phải trả SV Trần Thị Nhã 4 Khoa TCKT Trường Đại học Hòa Bình GVHD: TS Trần Thế Nữ và đƣợc tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. KPCĐ là khoản trích nộp sử dụng với mục đích cho hoạt động của tổ chức công đoàn đảm bảo quyền lợi ích chính đáng cho ngƣời lao động.
Ý nghĩa, nhiệm vụ và chức năng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương *Ý nghĩa: Tiền lƣơng là yếu tố cơ bản để quyết định thu nhập tăng hay giảm của ngƣời lao động, quyết định mức sống vật chất của ngƣời lao động làm công ăn lƣơng trong doanh nghiệp. Vì vậy để có thể trả lƣơng một cách công bằng chính xác, đảm bảo quyền lợi cho ngƣời lao động thì mới tạo ra sự kích thích, sự quan tâm đúng đắn của ngƣời lao động đến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp. Có thể nói hạch toán chính xác đúng đắn tiền lƣơng là một đòn bẩy kinh tế quan trọng để kích thích các nhân tố tích cực trong mỗi con ngƣời, phát huy tài năng, sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình của ngƣời lao động tạo thành động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế. Mặt khác, tiền lƣơng là một trong những chi phí của doanh nghiệp hơn nữa lại là chi phí chiềm tỉ lệ đáng kể.
Mục tiêu của doanh nghiệp là tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận, nhƣng bên cạnh đó phải chú ý đến quyền lợi của ngƣời lao động. Do đó làm sao và làm cách nào để vừa đảm bảo quyền lợi của ngƣời lao động vừa đảm bảo bảo quyền lợi của doanh nghiệp. Đó là vấn đề nan giải của mọi doanh nghiệp. Vì vậy hạch toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng không những có ý nghĩa phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời lao động mà còn có ý nghĩa giúp các nhà quản lý sử dụng quỹ tiền lƣơng có hiệu quả nhất tức là hợp lý hóa chi phí giúp doanh nghiệp làm ăn có lãi.
Cung cấp thông tin đầy đủ chính xác về tiền lƣơng của doanh nghiệp, để từ đó doanh nghiệp có những điểu chỉnh kịp thời, hợp lí cho những kì doanh thu tiếp theo. Tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng sẽ là nguồn thu nhập chính, thƣờng xuyên của ngƣời lao động, đảm bảo tái sản xuất và mở rộng sức lao động, kích thích lao động làm việc hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh khi công tác hạch toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng đƣợc hạch toán hợp lý công bằng chính xác. SV Trần Thị Nhã 5 Khoa TCKT Trường Đại học Hòa Bình GVHD: TS Trần Thế Nữ Ngoài tiền lƣơng ngƣời lao động còn đƣợc trợ cấp các khoản phụ cấp, trợ cấp BHXH, BHYT, BHTN, … các khoản này cũng góp phần trợ giúp, động viên ngƣời lao động và tăng thêm cho họ trong các trƣờng hợp khó khăn tạm thời hoặc vĩnh viễn mất sức lao động. *Nhiệm vụ: Ghi chép phản ánh kịp thời số lƣợng thời gian lao động, chất lƣợng sản phẩm, tính chính xác tiền lƣơng phải trả cho ngƣời lao động.