phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần Thủy sản Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần Thủy sản Bình Định. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát chung về kế toán trách nhiệm 1. Khái niệm kế toán trách nhiệm Trong quá trình quản lý, nhà quản lý cấp cao cần có sự phân quyền và trách nhiệm cho các nhà quản lý cấp dƣới. Việc phân quyền trong tổ chức đòi hỏi nhà quản lý cấp trên phải nắm bắt đƣợc kết quả thực hiện của cấp dƣới. Vì thế, kế toán trách nhiệm đƣợc xây dựng để theo dõi, đánh giá kết quả quản lý, đánh giá trách nhiệm của cấp dƣới.
Theo Emmanuel và cộng sự (1990) thì kế toán trách nhiệm là sự thu thập tổng hợp và báo cáo những thông tin tài chính về những trung tâm khác nhau trong một tổ chức (những trung tâm trách nhiệm), cũng còn đƣợc gọi là kế toán hoạt động hay kế toán khả năng sinh lợi. Nó lần theo các chi phí, thu nhập hay lợi nhuận đến những nhà quản lý riêng biệt, những ngƣời chịu trách nhiệm cho việc đƣa ra các quyết định về chi phí, thu nhập hay lợi nhuận đang đƣợc nói đến và thực thi những hành động về chúng. Kế toán trách nhiệm tỏ ra phù hợp ở những tổ chức mà ở đó nhà quản lý cấp cao thực hiện chuyển giao quyền ra quyết định cho các cấp thuộc quyền. Theo đó, ý tƣởng đằng sau kế toán trách nhiệm là kết quả hoạt động của mỗi nhà quản lý, nên đƣợc đánh giá bởi việc họ đã quản lý những công việc đƣợc giao nằm trong sự ảnh hƣởng của họ tốt hoặc xấu nhƣ thế nào [20].
Theo Atkinson (2001) định nghĩa: “Kế toán trách nhiệm là một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức, thông qua các báo cáo liên quan đến chi phí, thu nhập và các số liệu hoạt động bởi từng khu vực trách nhiệm hoặc đơn vị trong tổ chức; Một hệ thống cung cấp thông tin 10 nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả của mỗi nhà quản lý, chủ yếu ở khía cạnh thu nhập và những khoản chi phí mà họ có quyền kiểm soát đầu tiên (quyền ảnh hƣởng); Một hệ thống kế toán tạo ra các báo cáo chứa cả những đối tƣợng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát đối với một cấp quản lý. Theo đó, những đối tƣợng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát đƣợc phân tách rõ ràng, và có sự nhận diện những đối tƣợng có thể kiểm soát đƣợc là một nhiệm vụ cơ bản trong kế toán trách nhiệm và báo cáo trách nhiệm” [19]. Nhóm tác giả Weygandt, Kieso và Kimmel (2001) cho rằng: Kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị mà liên quan đến việc tích lũy, báo cáo về thu nhập và chi phí trên cơ sở nhà quản lý có quyền đƣa ra những quyết định trong hoạt động hằng ngày về các vấn đề đó [24]. Đoàn Ngọc Quế và cộng sự (2006) định nghĩa: Kế toán trách nhiệm là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung của tổ chức.
Thông tin có thể kiểm soát của một bộ phận là những thông tin về doanh thu, chi phí, vốn đầu tƣ, … mà nhà quản trị của bộ phận đó có thể đƣa ra các quyết định tác động lên nó. Thông tin có thể kiểm soát cụ thể đối với từng nhà quản trị phụ thuộc vào trách nhiệm quản lý của nhà quản trị đó” [12, tr. Theo Huỳnh Lợi (2009) cho rằng: Kế toán trách nhiệm là một hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận (thành viên, con ngƣời) trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc về phạm vi quản lý của mình, họ phải xác định, đánh giá và báo cáo cho tổ chức, thông qua đỏ các cấp quản lý cao hơn sử dụng các thông tin này để đánh giá thành quả của các bộ phận trong tổ chức [7, tr. Nhóm tác giả Phạm Văn Dƣợc, Trần Văn Tùng (2011) đề cập: Kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán tập hợp kết quả theo từng lĩnh vực thuộc trách nhiệm cá nhân, bộ phận, nhằm giám sát và đánh giá kết quả của từng bộ phận trong tổ chức [4, tr.
11 Nhƣ vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán trách. Tuy nhiên, các định nghĩa trên đều có điểm chung là đều nhấn mạnh đến cách phân cấp quản lý và phân chia trách nhiệm cho các bộ phận chức năng, đƣợc đánh giá thông qua số liệu kế toán. Vì vậy, có thể hiểu kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị nhằm phân chia hệ thống thành các trung tâm khác nhau và ngƣời đứng đầu mỗi trung tâm chỉ phải chịu trách nhiệm về kết quả của trung tâm mà mình quản lý. Để có thể đo lƣờng thành quả của mỗi trung tâm trách nhiệm thì cần phải thiết lập các chỉ tiêu để đo lƣờng thành quả đó.
Bản chất của kế toán trách nhiệm Kế toán trách nhiệm là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung của tổ chức. Bản chất của kế toán trách nhiệm là mỗi bộ phận đƣợc phân cấp quản lý, có quyền kiểm soát, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc phạm vi phân cấp quản lý của mình. Việc phân cấp quản lý tạo nên cơ cấu phức tạp và đòi hỏi cấp trên phải nắm đƣợc kết quả thực hiện của cấp dƣới. Vì thế, kế toán trách nhiệm đƣợc xây dựng để theo dõi kết quả, hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp.
Kế toán trách nhiệm chỉ đƣợc thực hiện ở doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý đƣợc phân quyền một cách rõ ràng. Kế toán trách nhiệm trong các tổ chức khác nhau đƣợc xây dựng phù hợp với cơ cấu tổ chức quản lý, mức độ phân quyền và mục tiêu của doanh nghiệp. Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị. Kế toán trách nhiệm là một bộ phận trong một tổ chức hoạt động mà nhà quản trị bộ phận chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của bộ phận mình đối với nhà quản trị cấp cao.
Điều này không chỉ đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ rõ ràng về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà còn xác định rõ nguyên nhân và bộ phận nào có kiểm soát với hoạt động xảy ra. 12 Kế toán trách nhiệm là một trong những công cụ quản lý kinh tế tài chính có vai trò quan trọng trong điều hành, kiểm soát cũng nhƣ đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng bộ phận trong đơn vị. Kế toán trách nhiệm giúp thu thập và báo cáo các thông tin đầu vào - nguồn lực tiêu hao và đầu ra - doanh thu, kết quả sản xuất, chất lƣợng dịch vụ. theo kế hoạch và thực tế của các trung tâm trách nhiệm.
Từ đó, so sánh giữa thực tế và dự toán tìm ra các sai lệch trên cơ sở đó các bộ phận có thể kiểm soát hoạt động và chi phí phát sinh tại bộ phận. Vai trò của kế toán trách nhiệm Theo Huỳnh Lợi (2012), kế toán trách nhiệm là một phƣơng pháp phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lƣờng biểu hiện của chúng. Nói cách khác, kế toán trách nhiệm là một "công cụ" để đo lƣờng về kết quả hoạt động của một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau [8]. Vai trò của kế toán trách nhiệm đƣợc thể hiện ở những khía cạnh sau đây: Thứ nhất, kế toán trách nhiệm giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của toàn bộ tổ chức.
Thứ hai, kế toán trách nhiệm cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lƣợng về kết quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận. Thứ ba, kế toán trách nhiệm đƣợc sử dụng để đo lƣờng kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do đó, nó ảnh hƣởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này. Thứ tƣ, kế toán trách nhiệm thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phƣơng cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức. Nhƣ vậy, kế toán trách nhiệm có vai trò quan trọng trong công tác kiểm soát và đánh giá hiệu quả của từng bộ phận trong tổ chức.
Đối tƣợng sử dụng 13 thông tin kế toán trách nhiệm là các nhà quản lý cấp cao, cấp trung và cấp cơ sở. Tùy vào cấp quản lý mà kế toán trách nhiệm thể hiện vai trò và mục đích cung cấp thông tin khác nhau. Đối với nhà quản trị cấp cao, KTTN cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hành của doanh nghiệp. KTTN xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản lý có thể hệ thống hóa các công việc của từng trung tâm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá.
KTTN giúp nhà quản trị đánh giá và điều chỉnh các bộ phận cho thích hợp. Đối với nhà quản trị cấp trung, KTTN cung cấp thông tin cho việc kiểm soát tài chính và kiểm soát quản lý. Thông qua KTTN nhà quản lý có thể phân tích đánh giá chi phí đã chi, doanh thu và lợi nhuận thực hiện của bộ phận. Báo cáo trách nhiệm phản hồi cho ngƣời quản lý biết kế hoạch thực hiện công việc ra sao; nhận diện các vấn đề hạn chế để có sự điều chỉnh các chiến lƣợc mục tiêu sao cho kết quả kinh doanh là tốt nhất, góp phần nâng cao hiệu suất sử dụng vốn, tăng doanh thu, giảm chi phí tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Đối với nhà quản trị cấp cơ sở, kế toán trách nhiệm khuyến khích nhà quản lý hƣớng đến mục tiêu chung của tổ chức. Mục tiêu hoạt động của các trung tâm trách nhiệm phải gắn liền với mục tiêu chung của tổ chức.