chương 1, nhóm nghiên cứu đề cập đến tổng quan nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu. Trên cơ sở đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra. Trong chương 2 nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục thảo luận về cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 2.
Bản chất, vai trò của kế toán trách nhiệm 2. Sự hình thành kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp Khi các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN ngày càng tăng lên thì sự phân quyền đối với các bộ phận trong doanh nghiệp sẽ càng cần thiết. Khi quyền hạn và trách nhiệm được xác định rõ ràng, sẽ xuất hiện một cơ cấu quản lý và mỗi người sẽ tạo một phạm vi trách nhiệm, trong đó các cá nhân có thể đưa ra quyết định của mình. Để thực hiện mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp thì từng bộ phận, từng nhà quản trị phải hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình được giao.
Vì vậy, các bộ phận, các nhà quản trị trong doanh nghiệp phải được kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động thường xuyên. Hoạt động kiểm tra đánh giá sẽ các bộ phận đảm bảo khả năng đạt được những mục tiêu chung của doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện các mục tiêu đề ra, có thể xảy ra việc hoàn thành hay không hoàn thành kế hoạch. Từ những việc kiểm tra này, doanh nghiệp sẽ tìm nguyên nhân và trách nhiệm của các bộ phận không hoàn thành nhiệm vụ.
Do vậy doanh nghiệp cần có một hệ thống chuyên cung cấp thông tin cho hoạt động kiểm tra, đánh giá thành quả hoạt động của các bộ phận, toàn doanh nghiệp hay năng lực quản lý của nhà quản trị trong doanh nghiệp. Khái niệm và bản chất của kế toán trách nhiệm “Kế toán trách nhiệm là một trong những nội dung cơ bản của KTQT. KTTN dựa trên cơ sở lý thuyết tổ chức và nhu cầu về quản lý, mục đích để đo lường, kiểm soát và đánh giá kết quả hoạt động của các bộ phận.“KTTN được đề cập đầu tiên vào những năm 1950 ở Mỹ. Từ đó đến nay, KTTN được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu với các quan điểm khác nhau, cụ thể:” Trên thực tế, kế toán trách nhiệm (KTTN) được tác giả Higgins, J.
đề cập đến lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1952. Theo Higgins, KTTN được hiểu là quá trình kiểm soát chi phí, đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận trong tổ chức, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người chịu trách nhiệm kiểm soát trong bộ phận. Kellogg đã kế thừa và phát triển quan điểm của Higgins, ông cho rằng, KTTN chỉ tồn tại trong đơn vị có cơ cấu tổ chức chặt chẽ. J Gordon khẳng định, KTTN chỉ thực sự phát triển trong tổ chức có sự phân quyền.
Quá trình kiểm soát, cơ cấu tổ chức và sự phân quyền được các tác giả James R. Merchant khái quát thành các trung tâm trách nhiệm. Trung tâm trách nhiệm được hiểu là một bộ phận do một người quản lý chịu trách nhiệm và kiểm soát từ chi phí, thu nhập đến kết quả của bộ phận đó. 8 KTTN được đề cập đến hai khía cạnh là thông tin và trách nhiệm.
Mỗi khía cạnh sẽ tác động đến hành vi và thái độ của nhà quản lý, có thể ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả của KTTN. Xu thế gây ảnh hưởng có thể là tích cực hoặc tiêu cực tuỳ thuộc vào từng khía cạnh. Khi đề cao vai trò của thông tin, KTTN sẽ ảnh hưởng tích cực lên hành vi của nhà quản lý. Bởi vì, họ được cung cấp thông tin để kiểm soát, đánh giá tình hình hoạt động của tổ chức, hiểu được nguyên nhân của việc hoạt động kém hiệu quả, từ đó tìm những biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai.
Khi đề cao vai trò của trách nhiệm, KTTN sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các nhà quản lý, vì họ cảm thấy mình phải gánh trách nhiệm, có thể họ sẽ bị phê bình và khiển trách vì hiệu quả thực hiện công việc không tốt. Như vậy, hiện tại có rất nhiều quan điểm khác nhau về KTTN. Sự khác nhau đó không mang tính đối nghịch nhau mà chúng bổ trợ cho nhau tạo một cái nhìn toàn diện về KTTN. Bản chất của KTTN được thể hiện như sau: KTTN là một nội dung cơ bản của KTQT và là quá trình thu thập, tập hợp và báo cáo các thông tin tài chính và phi tài chính, được dùng để kiểm soát các quá trình hoạt động và đánh giá hiệu quả của từng bộ phận trong một tổ chức.
Thực chất KTTN chính là thiết lập những quyền hạn, trách nhiệm cho mỗi bộ phận, cá nhân và một hệ thống chỉ tiêu, công cụ báo cáo kết quả của mỗi bộ phận. Vai trò của kế toán trách nhiệm KTTN với mục đính là đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận trong đơn vị, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau: Thứ nhất, KTTN giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của tổ chức. KTTN giúp nhà quản lý kiểm soát và đánh giá hiệu quả của từng bộ phận quảnlý được phân cấp trong bộ máy quản lý. Thứ hai, KTTN cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng về kết quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận.
KTTN xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó các nhà quản lý có thể hệ thống hóa các công việc của các trung tâm trách nhiệm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá. Thứ ba, KTTN được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do đó, nó ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này. Thứ tư, KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phương cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức. Mục tiêu chiến lược của các doanh nghiệp được gắn với các trung tâm trách nhiệm.
Vì vậy các nhà quản lý của trung tâm trách nhiệm sẽ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu của doanh nghiệp. 9 Thứ năm, KTTN trong việc kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. KTTN giúp nhà quản trị các cấp xác định trách nhiệm của mình và sẽ phải chịu trách nhiệm đó với nhà quản trị cấp cao hơn trong quá trình hoạt động kinh doanh để đặt được mục tiêu. KTTN cũng giúp nhà quản trị các cấp đánh giá được hoạt động kinh doanh của bộ phận mình.
Từ đó nhà quản trị cấp dưới chủ động ra quyết định kinh doanh, các nhà quản trị cấp cao tập trung vào các quyết định chiến lược kinh doanh. Thứ sáu, KTTN giúp nhà quản lý xây dựng các trung tâm trách nhiệm phù hợp với đặcđiểm tổ chức và phân cấp quản lý tạo điều kiện để nhà quản trị có thể có hệ thống được các công việc của từng trung tâm, thiết kế các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động. Đồng thời điều chỉnh kế hoạch của các bộ phận trong DN sao cho phù hợp. Quan hệ kế toán trách nhiệm với tổ chức phân cấp quản lý 2.Tổ chức phân cấp quản lý Mọi DN sau khi thành lập đều phải xác định cơ cấu tổ chức, phân chia trách nhiệm và quyền hạn cho các cá nhân và bộ phận trong DN.
Phân quyền là hiện tượng tất yếu khi DN đạt tới quy mô và trình độ phát triển nhất định làm cho một người hay một cấp quản trị không thể đảm đương được mọi công việc quản trị. Cơ cấu tổ chức bộ máy DN là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc nhau, được chuyên môn hóa và có những trách nhiệm quyền hạn nhất định, được bố trí theo cấp, khâu khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản trị DN và phục vụ mục đích chung của DN. Cơ cấu tổ chức của DN thể hiện cách thức trong đó các hoạt động của DN được phân công giữa các phân hệ, các bộ phận và cá nhân. Cơ cấu tổ chức của một DN xác định rõ mối tương quan giữa các hoạt động cụ thể, những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm gắn liền với các cá nhân, bộ phận, phân hệ của DN và các mối quan hệ quyền lực bên trong DN.
Các thuộc tính cơ bản của cơ cấu tổ chức trong DN bao gồm: chuyên môn hóa công việc; phân chia tổ chức thành các bộ phận; quyền hạn và trách nhiệm; cấp bậc và phạm vi quản trị; tập trung và phân quyền trong quản trị; sự phối hợp giữa các bộ phận và phân hệ của cơ cấu tổ chức. Phân cấp quản lý là sự chuyển giao một phần quyền quản lý của cấp trên cho cấp dưới. Đây là sự chuyển giao quyền quản lý theo chiều dọc trong hệ thống quản lý theo cấp bậc trên – dưới trong DN. [2] Việc phân cấp quản lý trong DN phụ thuộc vào mô hình tổ chức trong DN.
Mô hình tổ chức thể hiện hình thức cấu tạo của tổ chức, bao gồm các bộ phận mang tính độc lập tương đối thực hiện những hoạt động nhất định. Việc hình thành các bộ phận của mô hình tổ chức phản ánh quá trình chuyên môn hóa và hợp nhóm các công việc, nhiệm vụ và chức năng hoạt động của DN, tạo nên những phương thức hình thành các 10 bộ phận khác nhau. Mô hình tổ chức trong các DN có thể khác nhau phụ thuộc vào thực tế phân chia công việc cho các bộ phận trong DN. Theo mối quan hệ với phương thức hình thành bộ phận, mô hình tổ chức được chia thành mô hình theo sản phẩm, theo khách hàng, theo địa dư, theo ma trận.
Mô hình tổ chức đơn giản: Là mô hình tổ chức mà trong DN không hình thành nên các bộ phận. Người lãnh đạo trực tiếp quản lý tất cả các thành viên của tổ chức. Người lao động được tuyển dụng để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể. Mô hình tổ chức theo chức năng có ưu điểm là phản ánh logic các chức năng, phát huy được ưu thế của việc chuyên môn hóa ngành nghề, phát huy được sức mạnh và khả năng của đội ngũ cán bộ theo chức năng; giảm chi phí và rút ngắn thời gian đào tạo do các nhiệm vụ có tính lặp đi lặp lại hàng ngày; chú trọng đến tiêu chuẩn nghề nghiệp và tư cách nhân viên; tạo ra các biện pháp kiểm soát chặt chẽ của cấp cao nhất.