CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI 1. ĐẠO ĐỨC LÀ MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI 1. Khái niệm đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, là sự phản ánh tồn tại xã hội, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật. Trong xã hội có giai cấp, tư tưởng đạo đức thống trị trong xã hội là tư tưởng đạo đức của giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế.
Giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế dựa vào bộ máy nhà nước để tuyên truyền, giáo dục và thể chế hoá tư tưởng đạo đức của mình thành những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, biến nó trở thành thước đo đánh giá, điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong xã hội, phù hợp với lợi ích của nó. Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, các tư tưởng đạo đức đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử. Ngay trong chế độ cộng sản nguyên thủy, ý thức đạo đức đã được hình hình và phụ thuộc chặt chẽ vào những điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt vật chất. Trong xã hội nguyên thủy con người cùng nhau hái lượm, xã hội không có sự phân chia giai cấp, không tranh lợi, không có hiện tượng người bóc lột người… mọi nguyên tắc của xã hội được duy trì bằng sức mạnh của phong tục, của dư luận xã hội, bằng uy tín và sự tôn kính đối với người phụ nữ, người tộc trưởng.
Trong giai đoạn lịch sử này chưa xuất hiện các tư tưởng đạo đức. Đến thời kỳ lịch sử chiếm hữu nô lệ, khi có sự phân chia giai cấp, bất công xã hội nảy sinh, các tư tưởng về đạo đức xuất hiện trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos (moris) - lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là “Ethicos” nghĩa Luan van 10 là lề thói; tập tục.
Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, “moral” là đạo đức, còn “Ethicos” là đạo đức học. Trong triết học Trung Quốc cổ đại, các học thuyết về đạo đức xuất phát từ cách hiểu về đạo đức của họ. Theo người Trung Quốc thì “Đạo” là con đường, phạm trù này về sau được sử dụng trong các tư tưởng triết học để chỉ con đường của tự nhiên, chẳng hạn như khái niệm “Đạo” trong tư tưởng của Lão Tử.
Ngoài ra, đạo cũng còn được hiểu như là con đường sống của con người trong tự nhiên và xã hội. Đối với phạm trù “Đức” dùng để chỉ đức nhân, đức tính…đó là sự biểu hiện của “Đạo”, là đạo nghĩa, nguyên tắc của luân lý. Khái niệm đạo đức được đề cập đầu tiên trong kinh văn của nhà Chu và sau đó thì được người Trung Quốc sử dụng nhiều, theo họ đạo đức là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra và buộc con người phải tuân theo. Trong các học thuyết triết học ở Trung Quốc thời kỳ cổ đại, tư tưởng về đạo đức xuất hiện rõ nhất trong học thuyết Nho giáo.
Đạo làm người được Khổng Tử đề cập khá nhiều, ông cho rằng xã hội loạn do con người không làm đúng chức phận, không làm theo danh của mình. Ông xây dựng học thuyết “Chính danh” nhằm đưa xã hội từ loạn thành trị. Bên cạnh đó, Khổng Tử và các học trò của ông đã đề cập đến nhiều phạm trù đạo đức như: Nhân, lễ, nghĩa, tín… Ngoài ra, tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo cũng đã đề cập sâu sắc đến đạo và học thuyết “Vô vi”, Mặc Tử có học thuyết “Kiêm ái”… Trong triết học phương Tây, vấn đề đạo đức được đề cập khá nhiều trong triết học cổ đại, cận đại và hiện đại. Trong triết học Hy Lạp cổ đại, các nhà triết học thường đề cập các vấn đề liên quan đến đạo đức, và cho rằng các vấn đề đó là đạo đức.
Đối với Democritus thì đạo đức chính là con người có cuộc sống vui vẻ. Ông nói rằng: “Cách sống tốt nhất của một con người là Luan van 11 làm thế nào để được vui vẻ càng nhiều càng tốt và đau khổ càng ít càng tốt” [22, tr. Socrates thì cho rằng, đạo đức là con người biết làm điều thiện. Nhưng thế nào là thiện và làm sao biết đó là điều thiện? Socrates giải thích rằng: con người thiện là một con người có tri thức, một con người biết tri thức thì sẽ hiểu thế nào là thiện và sẽ hành động theo điều thiện.
Và như thế, con người chỉ cần hiểu biết đạo đức thì đủ để trở thành người có đạo đức. Socrates đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của những định kiến duy lý, đã đồng nhất giữa lý luận và thực tiễn khi xem xét vấn đề đạo đức. Triết học thời kỳ Hy Lạp sau Socrates cũng có nhiều nhà triết học bàn về vấn đề đạo đức. Plato nghĩ rằng đạo đức chính là hạnh phúc và công bằng.
Trong tác phẩm “Cộng hòa”, Plato nói rằng: đạo đức là nguyên nhân tất yếu dẫn đến hạnh phúc. Arittotle tin rằng, tri thức đạo đức là những tri thức tổng quát. Người có đạo đức không đơn giản rằng người ta hiểu được đạo đức là gì mà còn phải thực hành đạo đức giỏi, phải trở thành người lương thiện. Thánh Augustine cho rằng: cái thiện cao nhất chính là đạo đức, cái thiện cao nhất đó chính là tình yêu Thiên chúa, là sự hạnh phúc nhất.
Nhưng đối với Immanuel Kantơ để có giá trị đạo đức thì chúng ta phải hành động vì bổn phận của chúng ta, tất nhiên đó không phải vì một mục đích ích kỷ mà đó phải là một ý chí tốt, nó dựa trên các nguyên tắc của ý chí chứ không phải vì kết quả. Chủ nghĩa vị lợi của John Stuart Mill thì khẳng định: Sung sướng là một nguyên tắc của hạnh phúc nhiều nhất. Ông chấp nhận nguyên tắc: “lợi ích hay hạnh phúc lớn nhất làm nền tảng đạo đức là tín điều cho rằng các hành động là đúng nếu chúng đem lại hạnh phúc, là sai nếu chúng đem lại điều đối nghịch với hạnh phúc”.529] Lịch sử triết học trước Mác đã có nhiều quan niệm về đạo đức dưới những góc nhìn xã hội khác nhau. Nhưng tựu chung đều hướng đến cái thiện, cái tốt đẹp và đều cho rằng đó là đạo đức.
Cuộc sống tốt đẹp, vui vẻ và làm điều thiện chính là đạo đức. Nhưng xét cho đến cùng thì mọi học thuyết đạo Luan van 12 đức đã có từ trước cho đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Trong các xã hội có sự phân chia giai cấp, tư tưởng đạo đức mang tính giai cấp, mỗi giai cấp có đạo đức riêng của giai cấp mình, nó phản ánh các quan hệ thực tiễn làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình. Ngày nay, đạo đức được hiểu và định nghĩa như sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.215] Khi phân tích khái niệm về đạo đức cần chú ý các điểm sau: Thứ nhất, đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự phản ánh của các quan hệ xã hội. Có đạo đức của xã hội nguyên thuỷ, đạo đức của chế độ chủ nô, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản. Lợi ích của giai cấp thống trị là duy trì và củng cố những quan hệ xã hội đang có. Trái lại, giai cấp bị bóc lột tuỳ theo nhận thức về tính bất công của những quan hệ ấy mà đứng lên đấu tranh chống lại và đề ra quan niệm đạo đức riêng của mình.
Trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp. Đồng thời, đạo đức cũng có tính kế thừa nhất định. Các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau, nhưng xã hội vẫn giữ lại những điều kiện sinh hoạt, những hình thức cộng đồng chung. Tính kế thừa của đạo đức phản ánh “những luật lệ đơn giản và cơ bản của bất kì cộng đồng người nào”.
Đó là những yêu cầu đạo đức liên quan đến Luan van 13 những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người với người. Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội. và biểu dương cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn.Ănghen từng nói rằng, không ai nghi ngờ được rằng nói chung đã có một sự tiến bộ về mặt đạo đức cũng như về tất cả các ngành tri thức khác của nhân loại. Quan hệ giữa người với người ngày càng mang tính nhân đạo cao hơn.
Ngay trong xã hội nguyên thuỷ đã có những hình thức đơn giản của sự tương trợ và không còn tục ăn thịt người. Với sự xuất hiện của liên minh bộ lạc và nhà nước, tục báo thù của thị tộc dần dần mất đi. Xã hội chủ nô coi việc giết nô lệ là việc riêng của chủ nô, đến xã hội phong kiến, việc giết nông nô bị lên án. Đạo đức phong kiến bóp nghẹt cá nhân dưới uy quyền của tôn giáo và quý tộc; đạo đức tư sản giải phóng cá nhân, coi trọng nhân cách.
Nhưng chúng ta vẫn chưa vượt được khuôn khổ của đạo đức giai cấp. Cho nên “một nền đạo đức thực sự có tính chất nhân đạo phải đặt lên trên sự đối lập giai cấp và lên trên mọi hồi ức về sự đối lập ấy. Nền đạo đức như vậy chỉ có thể có được khi nào xã hội đã tiến tới một trình độ mà người ta không những đã thắng được mà lại còn quên đi sự đối lập giai cấp trong thực tiễn của cuộc sống”.