Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 2. Khái niệm Lần đầu tiên thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate social responsibility, gọi tắt là CSR) được đề cập trong cuốn sách của Bowen và có tên là Social Responsibilities of the Businessman (tạm dịch là Trách nhiệm xã hội của doanh nhân). Bowen (1953) đã tuyên bố rằng các công ty cần hiểu vai trò của đạo đức kinh doanh và tầm quan trọng của nó đối với hoạt động lâu dài của tổ chức.
Bowen (1953) đưa ra thuật ngữ này nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi các doanh nhân không nên làm tổn hại đến quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội. Tuy nhiên, từ lúc xuất hiện cho đến nay, thuật ngữ này được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, Sethi (1979) cho rằng CSR hàm ý đưa hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến. Carroll (1999) thì cho rằng CSR bao gồm những kỳ mong của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định.
Vì cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất hoặc nhất trí tổng thể về định nghĩa CSR. Do đó, CSR cũng có những từ đồng nghĩa như tên gọi với từ khóa chính là công ty, xã hội và trách nhiệm. Do không có sự nhất quán trong khái niệm CSR nên các học giả nghiên cứu về CSR thường chọn các khía cạnh cụ thể phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và thuộc tính nghiên cứu của họ. Về tổng thể, CSR có thể được nhìn nhận từ ba quan điểm khác nhau: Lý thuyết kim tự tháp về CSR của Carroll (Carroll’s pyramid of CSR): Theo quan điểm này, Carroll (1979, 1991) đã chia các định nghĩa về CSR thành bốn loại trách nhiệm với tầm quan trọng tương ứng bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và tùy ý (trách nhiệm tùy ý sau đó được thay thế bằng trách nhiệm từ thiện).
Khái niệm này phổ biến đến nỗi khi tìm kiếm sẽ thấy có hơn 5.200 trích dẫn từ bài viết này của Carroll thông qua Google Scholar, cũng như hơn 100 biến 7 thể mô hình kim tự tháp từ mô hình đầu tiên, đã được áp dụng trong các nghiên cứu khác cho đến nay nếu tìm kiếm với cụm từ kim tự tháp về CSR của Carroll (Carroll, 2016). 1: Mô hình kim tự tháp về CSR của Carroll Nguồn: Carroll (1991) Lý thuyết phát triển bền vững (Sustainable development theory) tập trung vào các quan điểm kinh tế, môi trường và xã hội. Từ góc độ này, CSR được định nghĩa là một “Triết lý kinh doanh theo bối cảnh cụ thể, chiến lược, chủ động và hiệp lực, theo đó các tập đoàn cần quan tâm đến các vấn đề kinh tế, môi trường và xã hội một cách cân bằng” (Panwar & cộng sự, 2006). Trên thực tế, P&G, một công ty tiêu dùng toàn cầu, với hơn 300 thương hiệu được bán tại 180 quốc gia và 138.000 nhân viên, đang làm việc chăm chỉ để đưa tính bền vững vào hoạt động kinh doanh của mình.
Đối với P&G, tính bền vững vượt ra ngoài các chương trình đầu tư xã hội, nó bao gồm các vấn đề như thiết kế sản phẩm, vận hành sản xuất, sự tham gia của nhân viên và quan hệ đối tác của các bên liên quan. Định nghĩa được White (2009) sử dụng và được P&G thông qua về tính bền vững là thuật ngữ rộng hơn được sử dụng bởi các tập đoàn và nhà nghiên cứu “đảm bảo 8 chất lượng cuộc sống tốt hơn, bây giờ và cho các thế hệ mai sau” tập trung vào ba trụ cột là bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội và phát triển kinh tế. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory): Quan điểm này được phát triển vào năm 1997 bởi Elkington (1997) và còn được gọi với tên là điểm mấu chốt ba (Triple bottom line). Theo quan điểm này, CSR đặc biệt quan tâm đến tính bền vững và ổn định của mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các bên liên quan.
Theo đó, CSR đề cập đến tất cả các hoạt động của công ty, bao gồm các mối quan tâm xã hội và môi trường trong hoạt động kinh doanh và trong mối tương tác với các bên liên quan, cũng theo mức độ tham vọng của CSR (Pérez & Rodriguez del Bosque, 2013). Elkington (1997) đã chia trách nhiệm của doanh nghiệp thành ba chủ đề bao gồm con người, hành tinh và lợi nhuận, với ba trách nhiệm tương ứng: Đầu tiên là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với cộng đồng, nghĩa là các công ty nên chia sẻ lợi nhuận của họ để đóng góp cho một xã hội tốt đẹp hơn. Thứ hai là trách nhiệm giải trình về môi trường, nghĩa là doanh nghiệp nên có trách nhiệm bảo vệ môi trường và sự bền vững của hệ sinh thái nơi doanh nghiệp đang hoạt động. Cuối cùng là trách nhiệm kinh tế, không chỉ đối với các cổ đông của doanh nghiệp mà còn đối với khả năng tồn tại của nền kinh tế quốc dân.
Tổng hợp các nghiên cứu ở Việt Nam về CSR phần lớn đều tập trung vào các nội dung như: Vai trò, ảnh hưởng, trách nhiệm, các nhân tố tác động và mối quan hệ, xu hướng… Cụ thể là: Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lành và Phạm Thị Ngọc Trâm (2016). Các nhân tố tác động đến việc thực hiện Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Đã chỉ ra được các nhân tố tác động như “Nhân lực, vốn, thể chế bắt buộc từ Nhà nước và kiến thức về CSR”; cùng với đó là nghiên cứu của Trần Thị Hoàng Yến (2016). Nghiên cứu tác động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến kết quả hoạt động tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, Nghiên cứu Trần Ngọc Tú (2017).
Về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu cũng đã khẳng định “CSR hiện nay được xem là chiến lược hàng đầu của doanh nghiệp hơn là những quy tác hay từ thiện bắt buộc”; Nghiên cứu của Hồ Viết Tiến và Hồ Thị Vân Anh (2018). Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp: Các xu hướng nghiên cứu đã có nêu rõ và phân 9 loại CSR ra theo từng cấp độ cũng như phương pháp nghiên cứu của từng cấp độ từ đó xác định và đưa ra các nghiên cứu phổ biến về CSR đang thực hiện hay nghiên cứu của Huỳnh Đức Lộng (2020). Cơ sở lý thuyết về nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện báo cáo trách nhiệm xã hội cũng đã nêu rõ về tầm quan trọng của các nhân tố làm ảnh hưởng như: “Sự nhận thức của nhà quản lý, chiến lược đề ra của doanh nghiệp, Sự phức tạp khi thực hiện báo cáo, sự am hiểu báo cáo của nhân viên và cả áp lực thể chế”; Trách nhiệm xã hội – cơ hội truyền thông trong đại dịch Covid-19 của Phạm Thị Huệ và Lưu Thị Kim Tuyến (2021) cùng với việc áp dụng CSR mà đã không ngừng cũng cố vị thế của mình trên thị trường.
Gần đây nhất là nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến (2021). Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo quy định tại Luật doanh nghiệp Việt Nam. CSR trong doanh nghiệp Việt Nam được quy định cụ thể tại Luật doanh nghiệp 2014. Trong đó, nghĩa vụ được trình bày thành các khoản khác nhau tại Điều 8, khi tìm hiểu chúng ta có thể phân chia thành các nhóm trách nhiệm pháp lý sau: Nhóm trách nhiệm của doanh nghiệp tuân thủ về điều kiện kinh doanh, Nhóm trách nhiệm của doanh nghiệp đối với khách hàng, Nhóm trách nhiệm của doanh nghiệp về nghĩa vụ thuế, tài chính đối với Nhà nước, Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động và Trách nhiệm của doanh nghiệp với trật tự chung của xã hội.
Ngày nay, các tài liệu về CSR đã tăng lên đáng kể ở các nước đang phát triển (Jamali & Karam, 2018). Do đó, các tác giả này cho rằng khung khái niệm CSR đã nổi lên như một chủ đề hấp dẫn cho các học giả nghiên cứu cả về thực tiễn và lý thuyết. Do đó, khái niệm CSR ở một nước đang phát triển như Việt Nam nên được hiểu theo hai lĩnh vực cụ thể bao gồm hiểu về CSR (CSR understanding) và thực hiện CSR (CSR doing). Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu trước đây về CSR ở các nước phát triển đều tập trung vào yêu cầu của các tập đoàn trong việc giải quyết các vấn đề liên quan như người tiêu dùng, người quản lý, nhân viên và cổ đông.
Nhìn chung, bất chấp định hướng của các nhà nghiên cứu đối với các khái niệm CSR khác nhau, mục tiêu cuối cùng là thống nhất tính bền vững của doanh 10 nghiệp, sự lâu bền của quốc gia và xã hội nơi các doanh nghiệp đó đang hoạt động trên toàn thế giới. Lợi ích khi doanh nghiệp thực hiện CSR Theo Asemah và cộng sự (2013) thì các tổ chức coi trọng CRS sẽ có được những lợi thế sau: Thứ nhất là nâng cao thương hiệu và danh tiếng: Người tiêu dùng thường bị thu hút bởi các thương hiệu và công ty có danh tiếng tốt trong các vấn đề liên quan đến CSR. Một công ty được coi là có trách nhiệm với xã hội cũng có thể hưởng lợi từ danh tiếng của mình trong cộng đồng doanh nghiệp bằng cách tăng khả năng thu hút vốn và các đối tác thương mại. Các công ty có trách nhiệm với xã hội cũng ít có rủi ro xảy ra, đặc biệt các sự kiện tiêu cực thì càng hiếm hoi xảy ra hơn.
Các chuyên gia về CSR cho rằng các hoạt động CSR sẽ cải thiện hình ảnh của tổ chức. Khi một tổ chức thực hiện các hoạt động xã hội của doanh nghiệp, tổ chức đó đang nói với các thành viên cộng đồng rằng tổ chức đó là bạn của cộng đồng. Điều này cải thiện ấn tượng của mọi người về sự tồn tại chung của tổ chức. Để bù đắp một hình ảnh bất lợi, nhiều nhà lãnh đạo doanh nghiệp làm việc chăm chỉ để thuyết phục công chúng rằng kinh doanh tạo ra nhiều điều tốt đẹp cho xã hội (Asemah & cộng sự, 2013).
Thứ hai là giảm chi phí hoạt động: Một số sáng kiến CSR có thể giảm đáng kể chi phí vận hành.