mở đầu cho các doanh nghiệp tập trung vào các hoạt động từ thiện để gia tăng thiện cảm đối với người tiêu dùng. Cho đến năm 1953, nhà kinh tế người Mỹ Howard Bowen mới chính thức đưa thuật ngữ “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” trở nên phổ biến trong ấn phẩm “Social Responsibilities of the Businessman”. Đến những năm 2000, CSR sớm tiếp tục phát triển khi nhiều tổ chức bắt đầu kết hợp lợi ích xã hội trong thực tiễn kinh doanh của họ trong khi trở nên nhạy bén hơn với các bên liên quan. Một loạt các định nghĩa về “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp “đã được đưa ra tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất giữa các bên liên quan.
Một trong những lý do khiến các định nghĩa trở nên khác biệt đó là do chúng được đề cập từ góc nhìn khác nhau. Một doanh nhân có thể xác định CSR là một chiến lược kinh doanh, một nhà hoạt động phi chính phủ lại có thể coi đó là hành động thu hút người tiêu dùng không đúng quy cách, trong khi một quan chức chính phủ có thể coi đó là một quy định tự nguyện. Trước những năm 1950, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thường được gọi là trách nhiệm xã hội (SR) hơn là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) trong nhiều năm liền. Điều này có thể là do thời đại của tập đoàn nổi tiếng trong lĩnh vực kinh doanh chưa thật sự thống nhất chung về nhận thức.
Năm 1953, Howard Bowen đã xuất bản cuốn sách mang tính bước ngoặt đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ hiện đại của chủ đề này. Sự phân tích của Bowen với CSR xuất phát từ niềm tin rằng hàng trăm doanh nghiệp lớn nhất vào thời điểm đó là trung tâm quyền lực và ra quyết định quan trọng, hành động của những người này đã ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều công dân theo nhiều cách. Đối với ông, các quyết định và hành động của những nhà hoạt động khinh doanh có ảnh hưởng đến các bên liên quan, nhân viên và khách hàng 8 của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của toàn xã hội. Ông đã đặt ra một câu hỏi: Những trách nhiệm nào đối với xã hội mà các doanh nhân có thể mong đợi một cách hợp lý để đáp ứng nhu cầu của xã hội? William C.
Frederick, một trong những người tiên phong của CSR, đã khẳng định rằng có ba ý tưởng cốt lõi trong CSR: hoạt động của các nhà quản lý doanh nghiệp với tư cách là bên tác động đến lợi ích của cộng đồng, ý tưởng về việc cân bằng các nguồn lực của công ty và chấp nhận từ thiện như là một biểu hiện của sự hỗ trợ kinh doanh vì những lý do chính đáng. Hoạt động từ thiện, có lẽ là một trong những thực tiễn CSR hữu hình nhất, đã trở nên phổ biến từ phong trào Community Chest, sau này được gọi là United Way. (Carroll, 2008) Một đóng góp đột phá cho khái niệm CSR đến từ hiệp hội Cam kết phát triển kinh tế (CED) trong ấn phẩm năm 1971, Social Responsibilitie of Business Corporations, CED đã đưa ra quan điểm của mình bằng cách đưa ra bằng chứng sau khi quan sát các hoạt động kinh doanh bằng sự mức độ đồng ý của công chúng và xây dựng nhu cầu của xã hội đối doanh nghiệp. CED lưu ý rằng, mối quan hệ xã hội giữa doanh nghiệp và xã hội đang theo xu hướng: Doanh nghiệp đang được yêu cầu đảm nhận trách nhiệm rộng lớn hơn cho xã hội và phục vụ nhiều giá trị nhân văn hơn.
Các doanh nghiệp kinh doanh, trong thực tế, đang được yêu cầu đóng góp nhiều hơn vào chất lượng cuộc sống của cộng đồng thay vì chỉ cung cấp số lượng hàng hóa và dịch vụ. Vì kinh doanh tồn tại để phục vụ xã hội, tương lai của nó sẽ phụ thuộc vào chất lượng của việc quản lý đáp ứng với những kỳ vọng luôn thay đổi của công chúng. Jones (1980) nhận định trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là khái niệm mà các tập đoàn có nghĩa vụ đối với các nhóm cấu thành trong xã hội ngoài các cổ đông và vượt ra ngoài quy định của pháp luật. Hai khía cạnh của định hướng này là rất quan trọng.
Đầu tiên, hành vi phải được thực hiện một cách tự nguyện; thứ hai, đây là một nghĩa vụ rộng lớn, vượt ra ngoài phạm vi truyền thống đối với các cổ đông cho các nhóm xã hội khác như khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp và các cộng đồng lân cận. Ông cho rằng CSR phải được coi không phải là một tập hợp kết quả, mà là một quá trình ra quyết định CSR tạo nên hành vi CSR. Nghiên cứu của Jones là một trong 9 những đóng góp quan trọng trong những năm 1800; tuy nhiên, nó sẽ vẫn đưa ra được các khía cạnh của CSR mà doanh nghiệp cần phải đạt được. Năm 1991, tác giả và giáo sư quản lý kinh doanh tại Đại học Georgia Archie B.
Carroll đã xuất bản bài viết “Kim tự tháp về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”. Trong bài viết của mình, Carroll đã mở rộng các lĩnh vực mà ông tin là rất quan trọng khi triển khai CSR trong một tổ chức. Học giả Carroll (1991) đã phân chia trách nhiệm xã hội doanh nghiệp thành 4 phần nhỏ: trách nhiệm kinh tế, pháp luật, đạo đức và từ thiện. Carroll mô tả trách nhiệm kinh tế như là kỳ vọng mà doanh nghiệp sẽ tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông và trách nhiệm pháp luật như là yêu cầu đối với các doanh nghiệp phải tuân theo các quy định của pháp luật.
Trách nhiệm đạo đức có nghĩa là doanh nghiệp phải làm những gì được mong đợi về mặt đạo đức và đúng đạo lý. Trách nhiệm từ thiện có nghĩa là doanh nghiệp nên có chương trình từ thiện với xã hội. Đóng góp đáng chú ý trong đầu thập niên 1990 cho khái niệm này đến từ Burke và Logsdon (1996), nhằm tìm kiếm bằng chứng liên kết CSR với hoạt động tài chính của công ty, Burke và Logsdon đã xác định năm khía cạnh của CSR, đối với họ, rất cần thiết để đạt được các mục tiêu kinh doanh cũng như tạo ra giá trị: 1) tính trung tâm, thể hiện mức độ gần gũi hoặc phù hợp của CSR với sứ mệnh và mục tiêu của doanh nghiệp; 2) tính đặc hiệu, thể hiện khả năng đạt được lợi ích cụ thể cho công ty; 3) chủ động, về khả năng tạo ra các chính sách dự đoán xu hướng xã hội; 4) tự nguyện, được giải thích là quá trình ra quyết định tùy ý không bị ảnh hưởng bởi các yêu cầu tuân thủ bên ngoài, và; 5) khả năng hiển thị, trong đó đề cập đến sự liên quan của CSR có thể quan sát và nhận biết được đói với cấc bên liên quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Đến năm 1998, Elkington giải thích rằng để đạt được sự xuất sắc trong hiệu suất ba điểm mấu chốt (xã hội, môi trường, kinh tế) là thông qua quan hệ đối tác hiệu quả và lâu dài giữa doanh nghiệp và cộng đồng hay giữa các bên liên quan.
Khái niệm ba điểm mấu chốt đã trở nên phổ biến vào cuối những năm 1990 như một cách tiếp cận thực tế cho tính bền vững của doanh nghiệp và nó đã chỉ ra rằng các tập đoàn cần có 10 hành vi có trách nhiệm với xã hội và môi trường để có thể cân bằng với mục tiêu kinh tế. Lantos (2001) đã xây dựng định nghĩa về CSR theo cách hiểu của ông rằng: CSR đòi hỏi nghĩa vụ bắt nguồn từ “hợp đồng xã hội” giữa các doanh nghiệp và xã hội để các công ty phải phản ứng theo nhu cầu và mong muốn lâu dài của xã hội, tối ưu hoá các hoạt đọng tích cực và giảm thiểu các hoạt động tiêu cực của các hành động của doanh nghiệp gây ra cho xã hội. Theo đó, Lantos (2001) giải thích rằng CSR có thể thành chiến lược khi nó là một phần trong kế hoạch quản lý của công ty để tạo ra lợi nhuận, điều đó có nghĩa là công ty sẽ tham gia vào các hoạt động được xem là trách nhiệm xã hội nếu nó mang lại tài chính cho công ty. Matten và cộng sự (2004) định nghĩa CSR là một khái niệm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường.
Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù. United Nation Global Compact – Hiệp ước Toàn cầu Liên Hợp Quốc xác định công ty có trách nhiệm xã hội doanh nghiệp mạnh mẽ như những người "bao gồm, hỗ trợ và ban hành, trong phạm vi ảnh hưởng của họ, một tập hợp các giá trị cốt lõi trong các lĩnh vực nhân quyền, tiêu chuẩn lao động, môi trường và chống tham nhũng." Những giá trị cốt lõi được biết đến như là "Mười nguyên tắc của Hiệp ước Toàn cầu Liên Hợp Quốc " đã xây dựng để xác định hệ thống giá trị của doanh nghiệp và phương pháp kinh doanh. Liên minh Châu Âu năm 2011 định nghĩa CSR là "một khái niệm, theo đó các công ty tích hợp các mối quan tâm xã hội và môi trường trong hoạt động kinh doanh của họ và trong sự tương tác của họ với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện”. Cụ thể, CSR là một quá trình mà các công ty tích hợp các vấn đề xã hội, môi trường và đạo đức vào các hoạt động kinh doanh và chiến lược của họ trong sự tương tác chặt chẽ với các bên liên quan, vượt trên những yêu cầu của pháp luật và thỏa ước tập thể.
Trong khi đó, Uỷ ban kinh tế thế giới về phát triển bền vững định nghĩa: "trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một cam kết kinh doanh nhằm cư xử đạo đức và 11 đóng góp cho sự phát triển kinh tế cùng với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình của họ cũng như chất lượng cuộc sống của cộng đồng và xã hội nói chung". Doanh nghiệp mong muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển cộng đồng.