phần mở đầu, kết luận, các tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 03 chƣơng gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công Ty Công ty TNHH TMDV Kim Ngọc Kids. Chƣơng 3: Hoàn thiện công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công Ty Công ty TNHH TMDV Kim Ngọc Kids. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về kế toán quản trị trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị Khái niệm: Kế toán quản trị là bộ phận của hệ thống kế toán nhằm thu thập, xử lý, truyền đạt các thông tin về tình hình tài sản, tình hình sử dụng các nguồn lực cho hoạt động kinh doanh phục vụ cho công tác quản trị của doanh nghiệp.
Theo Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa: “Kế toán quản trị là quá trình định dạng, đo lƣờng, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiện, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”. Ở Việt Nam, quan điểm về KTQT đƣợc thể hiện tại Luật kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2015 “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” (Quốc Hội, 2015). Bản chất: KTQT đƣợc lập ra nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản lý tại DN thông qua các báo cáo nội bộ và tham gia công tác quản trị tại DN: từ khâu lập kế hoạch đến điều hành kiểm tra đánh giá và ra quyết định. KTQT chủ yếu phục vụ các nhà quản lý để ra quyết định nên không nhất thiết phải tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán.
Thông tin, hình thức của các báo cáo KTQT luôn thay đổi, tùy thuộc vào dạng quyết định và ý muốn chủ quan của nhà quản lý. Các thông tin của KTQT phản ánh những sự kiện đã, đang và sắp xảy ra, những chứng từ kế toán là không bắt buộc đối với KTQT. Do đó, thông tin KTQT mang tính linh hoạt, kịp thời và không chỉ thể hiện dƣới hình thái giá trị mà còn dƣới hình thái hiện vật hoặc các hình thái phi tiền tệ khác. 10 Về chế độ báo cáo: KTQT buộc phải cung cấp thông tin thƣờng xuyên, liên tục vào bất kỳ thời điểm nào tùy thuộc vào yêu cầu của nhà quản lý: đột xuất, hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng… 1.2 Chức năng, nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí a.
Chức năng: Các nhà quản trị điều hành sản sản xuất kinh doanh thông qua các chức năng quản lý, còn KTQT sử dụng các phƣơng pháp riêng để thiết kế, tổng hợp, phân tích và truyền đạt thông tin, đặt thông tin trong bối cảnh của các mục tiêu đã đƣợc xác định, với các tình huống khác nhau nhằm cung cấp thông tin thực sự hữu ích cho các chức năng quản trị. Cung cấp thông tin cho việc lập dự toán Dự toán chi phí sản xuất thƣờng đƣợc thể hiện dƣới dạng các dự toán. Đó là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách thức huy động và sử dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu đó. Dự toán là công việc quan trọng trong việc lập kế hoạch kinh doanh.
Dự toán là nội dung quan trọng trong chức năng quản trị. Để xây dựng đƣợc dự toán một cách sát thực, khoa học, có tính khả thi cao thì các thông tin kế toán quản trị là một nguồn thông tin vô cùng quan trọng. Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các nguồn lực để đạt tới mục tiêu đã định của doanh nghiệp. Trong quá trình điều hành sản xuất, nhà quản trị phải nắm chắc tình hình sử dụng các nguồn lực và có các quyết định điều chỉnh nhằm đạt tới mục tiêu với hiệu quả cao, quá trình này thông tin KTQT là kênh vô cùng quan trọng và là nhu cầu không thể thiếu đƣợc của các nhà quản trị.
Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát Kiểm soát là chức năng quan trọng của công tác quản trị. Phƣơng pháp đƣợc áp dụng là phƣơng pháp so sánh, các thông tin thực hiện sản xuất kinh doanh đƣợc so sánh với các chỉ tiêu kế hoạch, số liệu của dự toán, từ đó nhận diện và tìm ra nguyên nhân sự chênh lệch để có giải pháp điều chỉnh. KTQT cung cấp thông tin dƣới dạng có thể so sánh đƣợc, các cấp quản trị cí thể dễ dàng kiểm tra, đối chiếu để có các quyết định kịp thời, chính xác nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra. Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định 11 Ra quyết định không phải là chức năng riêng biệt của nhà quản trị, nó là sự kết hợp của cả quá trình lập dự toán, tổ chức thực hiện và kiểm soát.
Để cung cấp thông tin cho việc ra quyết định, KTQT sử dụng các phƣơng pháp phân tích thích hợp, chọn lọc thông tin cần thiết, rồi trình bày theo những tiêu thức nhất định, dễ hiểu, tiến hành các kỹ thuật phân tích trong các tình huống khác nhau và cung cấp cho nhà quản trị. Nhiệm vụ: Nhiệm vụ cơ bản của KTQT là cung cấp thông tin tài chính cho các nhà quản trị. Do vậy, các DN cần thiết phải tổ chức đƣợc hệ thống KTQT để thiết lập dự toán ngân sách, chi phí, dự toán tiêu thụ sản phẩm, dự toán doanh thu và kết quả kinh doanh… cho từng công đoạn sản xuất, từng thời kỳ hoạt động.3 Đối tƣợng và phƣơng pháp kế toán quản trị a. Đối tƣợng KTQT là một bộ phận của kế toán, tập trung vào việc xem xét quá trình vận động của tài sản trong quá trình tạo ra giá trị của DN.
Nhƣ vậy, đối tƣợng của KTQT là chi phí trong mối quan hệ đến việc hình thành giá trị. Chi phí có thể đƣợc xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, nhƣng việc xem xét chi phí trong mối quan hệ với khối lƣợng hay mức độ hoạt động và với lợi nhuận đƣợc xem là đối tƣợng chủ yếu của KTQT. Phƣơng pháp của kế toán quản trị Phƣơng pháp KTQT cũng nhƣ các phƣơng pháp của kế toán tài chính, bao gồm: lập chứng từ, ghi sổ, tính giá và tổng hợp cân đối kế toán. Hệ thống sổ sách KTQT đƣợc kết hợp với hệ thống sổ: sách kế toán chi phí trong kế toán tài chính.
Thƣớc đo giá trị dùng trong thông tin KTQT cần quan tâm đến các loại giá: giá lịch sử, giá tƣơng lai, giá hiện hành, hiện giá… KTQT còn sử dụng phƣơng pháp thu thập thông tin từ hệ thống hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật, hạch toán thống kê và kế thừa những phƣơng pháp của phân tích kinh doanh nhƣ: phƣơng pháp so sánh, tƣơng quan, thay thế liên hoàn và phân bổ. 12 Ngoài ra, phƣơng pháp KTQT còn thƣờng dùng theo cách ƣớc đoán, mô phỏng, gần đúng, dự báo xu hƣớng, biến động đánh giá trên cơ sở xác suất trong doanh nghiệp và môi trƣờng xung quanh.2 Kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm chi phí và KTQT chi phí Chi phí có thể đƣợc hiểu là giá trị của một nguồn lực bị tiêu dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức để đạt đƣợc mục đích nào đó. Bản chất của chi phí là phải mất đi để đổi lấy một kết quả. Kết quả có thể dƣới dạng vật chất nhƣ sản phẩm, tiền hoặc không có dạnh vật chất nhƣ kiến thức, dịch vụ đƣợc phục vụ… Trong KTQT, chi phí đƣợc phân loại và sử dụng theo nhiều tiêu thức khác nhau nhằm cung cấp thông tin phù hợp với nhu cầu đa dạng trong các thời điểm khác nhau của quản lý nội bộ doanh nghiệp.
KTQT chi phí là một bộ phận của KTQT chuyên thực hiện xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng quản trị. Đối với những ngƣời quản lý thì các chi phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thu đƣợc nhiều hay ít chịu ảnh hƣởng trực tiếp của những chi phí đã chi ra. Do đó, vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát đƣợc các khoản chi phí. Nhận diện, phân tích các hoạt động sinh ra chi phí là mấu chốt để có thể quản lý chi phí, từ đó có những quyết định đúng đắn trong hoạt động SXKD của DN.2 Phân loại chi phí a.
Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục: Chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm các loại nguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc sản xuất sản phẩm. Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lƣơng và những khoản trích theo lƣơng phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm. Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí phục vụ và quản lý quá trình sản xuất sản phẩm phát sinh trong phạm vi các phân xƣởng.
Khoản mục chi phí này bao gồm: chi phí vật liệu phục vụ quá trình sản xuất hoặc quản lý sản xuất, tiền lƣơng, 13 và các khoản trích theo lƣơng của nhân viên phân xƣởng, chi phí khấu hao, sửa chữa và bảo trì máy móc thiết bị, nhà xƣởng, chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ SX và quản lý ở phân xƣởng,… Chi phí ngoài sản xuất Đây là các chi phí phát sinh ngoài quá trình SX sản phẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn DN. Thuộc loại chi phí này gồm: chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN. Chi phí bán hàng: bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm.