CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ PHỤC VỤ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT QUYẾT ĐỊNH QUẢN TRỊ NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Đặc điểm quyết định quản trị ngắn hạn a. Khái quát về quyết định quản trị Quyết định quản trị là phương cách hành động mang tính sáng tạo của ban lãnh đạo DN nhằm xử lý một vấn đề phát sinh trên cơ sở hiểu biết các quy luật vận động khách quan của các đối tượng được quản trị và việc phân tích các thông tin về hiện trạng của các đối tượng.
Ra quyết định là một trong những chức năng cơ bản của người quản lý, thường xuyên được tiến hành trong suốt quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu, chiến lược đặt ra. Quyết định kinh doanh là lựa chọn một phương án kinh doanh có hiệu quả, phù hợp với điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp từ nhiều phương án kinh doanh khác nhau. [9] Những quyết định như sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, định giá sản phẩm ra sao? Có nên chấp nhận đơn đặt hàng đặc biệt hay không? Nếu căn cứ vào thời gian hiệu lực, thời gian ảnh hưởng và thực thi quyết định, chúng ta có thể chia quyết định thành hai loại. Quyết định ngắn hạn là những quyết định mà thời gian hiệu lực, thời gian ảnh hưởng và thực thi thường chỉ liên quan đến một thời kỳ (kỳ kế toán) hoặc trong vòng một năm, tính từ khi phát sinh các chi phí đầu tư theo các quyết định đó đến khi thu được các nguồn lợi.
Xét về mặt vốn đầu tư thì quyết định ngắn hạn là các quyết định không đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Quyết định dài hạn là những quyết định mà thời hạn hiệu lực, thời gian Luan van 8 ảnh hưởng và thực thi dài vượt quá giới hạn một kỳ kế toán hoặc một năm; Vốn đầu tư đòi hỏi một khối lượng lớn. Quyết định dài hạn thường liên quan đến việc đầu tư vào các tài sản cố định, như máy móc thiết bị, công trình, nhà xưởng, quyết định mở rộng sản xuất, quyết định lựa chọn máy móc thiết bị cần đầu tư. Đặc điểm của quyết định quản trị ngắn hạn trong doanh nghiệp Từ những phân tích khái quát về quyết định kinh doanh nói chung và quyết định kinh doanh ngắn hạn nói riêng cho phép chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản liên quan đến quyết định kinh doanh ngắn hạn như sau.
[1], [7],[11],[12] • Mỗi tình huống trong quyết định ngắn hạn đều ảnh hưởng đến thu nhập, chi phí trong thời gian được xác định là ngắn hạn. Vì vậy phương án lựa chọn phù hợp cho quyết định ngắn hạn là phương án mà lợi nhuận trong năm (hoặc dưới một năm tiếp theo) thu được phải cao hơn các phương án khác. • Mỗi tình huống trong quyết định ngắn hạn đều liên quan đến vấn đề sử dụng năng lực sản xuất hiện thời của doanh nghiệp, không cần thiết phải đầu tư mua sắm hoặc trang bị thêm tài sản cố định để tăng thêm năng lực sản xuất, năng lực hoạt động. Vì vậy phương án lựa chọn phải là phương án có khả năng sinh lời nhiều nhất trong việc sử dụng công suất, năng lực sản xuất hiện có.
• Quyết định ngắn hạn là những quyết định liên quan đến việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian ngắn, thường là một năm, phát sinh một cách thường xuyên, liên tục trong quá trình điều hành. Quyết định quản trị hiệu quả đòi hỏi phải có thông tin phù hợp và sự phân tích dữ liệu đặc trưng. • Sử dụng các kỹ thuật lập kế hoạch và kiểm soát về vốn, phân tích quan hệ chi phí - sản lượng - lợi nhuận, phân tích lãi suất, vốn lưu động… Luan van 9 • Kết quả của quyết định ngắn hạn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của các chiến lược và quyết định dài hạn, do vậy, nó cũng được xem xét thực hiện theo các chiến lược dài hạn của doanh nghiệp. • Về thực chất các quyết định quản trị ngắn hạn đều được xây dựng và hành động theo các mục tiêu dài hạn chung của doanh nghiệp, đạt được các mục tiêu ngắn hạn để hoàn thành các mục tiêu dài hạn.
Quy trình ra quyết định ngắn hạn [17 , p. Lựa chọn tiêu chuẩn 3. Xác định các phương án 4. Đánh giá lựa chọn phương án và thực thi quyết định 5.
Kiểm tra việc thực hiện quyết định 6. Phản hồi, điều chỉnh quyết định Sơ đồ 1. Sơ đồ ra quyết định quản trị ngắn hạn Luan van 10 Bước 1: Chẳng hạn vấn đề ra quyết định công ty nhận được một đơn đặt hàng đặc biệt với mức giá thấp hơn mức bình thường, vấn đề quyết định ở đây là chấp nhận hay từ chối đơn đặt hàng. Bước 2: Tiêu chuẩn ra quyết định, chẳng hạn như: Tối đa hóa lợi nhuận, tăng thị phần, giảm thiểu chi phí, cải thiện hình ảnh công ty trước công chúng.
Bước 3: Xác định các phương án chẳng hạn như khi thiết bị sản xuất bị hỏng, có hai phương án có thể lựa chọn: Phương án 1: sửa chữa thiết bị, phương án 2: Thay thế thiết bị c. Một số các quyết định quản trị ngắn hạn trong doanh nghiệp Mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp là lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này, trước những biến đổi của biến phí, định phí, sản lượng tiêu thụ, đơn giá bán, các nhà quản trị ứng xử như thế nào? Câu trả lời được xem xét cách ứng xử của doanh nghiệp qua một số các quyết định ngắn hạn thường gặp. [7], [8], [11], [12] • Quyết định sản lượng sản xuất trong năm.
• Quyết định điều chỉnh kết cấu mặt hàng (loại bỏ hay tiếp tục kinh doanh một mặt hàng, ngành hàng, hay mở thêm mặt hàng kinh doanh) như tiếp tục duy trì sản xuất kinh doanh một bộ phận, mặt hàng đó hay là xóa bỏ sản xuất kinh doanh một bộ phận, mặt hàng đó. Nếu doanh nghiệp có mặt hàng thay thế, lúc này sự chọn lựa gắn liền với phân tích thông tin thích hợp để quyết định một trong hai phương án là tiếp tục duy trì phương án sản xuất kinh doanh cũ, mở ra sản xuất kinh doanh một mặt hàng mới. • Quyết định nên tự sản xuất hay mua ngoài các chi tiết, bộ phận sản phẩm. Quyết định này cần xem xét doanh nghiệp đã hoạt động hết công suất không có mặt hàng khác thay thế.
Hoặc doanh nghiệp đã hoạt động hết công suất và có mặt hàng thay thế. Xem xét chi phí cơ hội khi lựa chọn phương án Luan van 11 tự sản xuất hay mua ngoài. • Quyết định về giá bán sản phẩm. Những quyết định liên quan đến giá thường là những quyết định ngắn hạn.
Trường hợp 1: Xác định giá bán để đạt được lợi nhuận mục tiêu. Thông thường muốn tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp thì doanh nghiệp hoặc là phải phấn đấu giảm chi phí để hạ giá thành sản phẩm hàng hoá hoặc phải tăng thêm khối lượng sản phẩm tiêu thụ đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhưng trong thực tế có một số tình huống mà doanh nghiệp có thể đặt ra mức lợi nhuận mục tiêu và phải xác định giá bán để đạt được lợi nhuận mục tiêu đó. Các tình huống này có thể là doanh nghiệp đang có nhiều lợi thế trong chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ hoặc doanh nghiệp có những đơn đặt hàng phụ trội hoặc sản phẩm của doanh nghiệp là mới trên thị trường.
Trường hợp 2: Xác định giá bán để đạt mục tiêu hòa vốn. Tại điểm hoà vốn doanh nghiệp biết được mức độ hoạt động tối thiểu cần thiết để doanh nghiệp có lãi, là cơ sở cần thiết để đưa ra các quyết định khi lựa chọn phương án đầu tư vào mục đích sản xuất sản phẩm mới hoặc mở rộng phạm vi sản xuất sản phẩm hiện hành. Trường hợp 3: Xác định giá bán với mục tiêu thu hồi chi phí trực tiếp. Trong thực tế có những tình huống doanh nghiệp phải tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh để giải quyết những vật tư tồn đọng với mục đích thu hồi lại vốn hoặc để khai thác hết công suất của máy móc thiết bị.
Nên trong trường hợp này doanh nghiệp xác định giá bán chỉ cần đủ để bù đắp chi phí trực tiếp hoặc thậm chí có thể chỉ tính đến chi phí nguyên vật liệu để thu hồi giá trị nguyên vật liệu mà không cần quan tâm đến các chi phí khác cũng như lợi nhuận. Do đó giá bán được xác định theo công thức: Giá bán = biến phí (chi phí trực tiếp). Như vậy giá bán được xác định chỉ phụ thuộc vào biến phí hoặc giá trị nguyên vật liệu trực tiếp, nên giá bán nhỏ hơn chi phí thực tế, giá Luan van 12 bán sẽ có sức cạnh tranh cao. Trường hợp 4: Xác định giá bán với những đơn đặt hàng đặc biệt (phụ trội).
Ở các doanh nghiệp ngoài các hợp đồng, các đơn đặt hàng với các khách hàng thông thường thì có thể phát sinh các (đơn đặt hàng) đặc biệt như thị trường tiêu thụ mới, khối lượng đơn đặt hàng nhiều, khách hàng nước ngoài, hoặc gặp khó khăn trong chiếm lĩnh thị trường. Trong những trường hợp này giá bán được xác định rất linh hoạt: xác định giá bán thông thường ở trên. Nhưng thường lấy giá gốc là biến phí còn phần chi phí cộng thêm sẽ là phạm vi giá linh hoạt tuỳ theo từng yêu cầu, trường hợp năng lực sản xuất chưa tận dụng hết thì giá bán được xác định có thể thấp hơn giá bán thông thường và chỉ cần đạt mục đích giá bán > biến phí. Trên phương diện kinh tế, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải xem xét phương án nếu chấp nhận đơn đặt hàng mới thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận của doanh nghiệp để quyết định đồng thời xem xét đến các yếu tố định tính xung quanh hợp đồng này như khu vực thị trường, phản ứng của các khách hàng khác.
• Quyết định điều chỉnh chi phí, giá cả, khối lượng tiêu thụ để tối đa hóa lợi nhuận như quyết định tăng thêm chi phí quảng cáo, khuyến mại tiếp thị, mở rộng thêm các cửa hàng giới thiệu sản phẩm. hay quyết định tăng biến phí, tăng chất lượng sản phẩm hay giảm biến phí, giảm chất lượng sản phẩm để đạt được sản lượng tiêu thụ theo lợi nhuận mục tiêu. • Quyết định nên bán ngay nửa thành phẩm hay tiếp tục chế biến ra thành phẩm rồi mới bán.