Chương 1 :Lý luận chung về công tác kế toán doanh thu , chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp vừa và nhỏ Chương 2 : Thực trạng về công tác kế toán doanh thu , chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH đầu tư thương mại và xuất nhập khẩu Hoàng Sơn Chương 3 : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán doanh thu , chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH đầu tư thương mại và xuất nhập khẩu Hoàng Sơn Mặc dù đã rất cố gắng song vì bản thân chƣa có hiều kinh nghiệm thực tế nên chuyên đề chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết. Do vậy , em rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp để hoàn thiện hơn bài viết của mình. Em xin chân thành cảm ơn ! Hải Phòng , ngày ….năm 2016 Sinh viên : Vũ Thị Ngọc Trâm 12 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng CHƢƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN DOANH THU , CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.1 Những vấn đề chung về doanh thu, chi phí và xác ddịnh kết quả kinh doanhtrong doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.1 Sự cần thiết của công tác kế toán doanh thu , chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp vừa và nhỏ Kế toán doanh thu ,chi phí và xác định kết quả kinh doanh có vai trò quan trọng , giúp doanh nghiệp quản lý chính xác các thu nhập , tổng chi phí từ đó xác định kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán. Tổ chức công tác kế toán hợp lý là một trong những cơ sở cung cấp thông tin quan trọng nhất cho việc theo dõi , điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Để công cụ kế toán phát huy hết vai trò của mình , đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng cải tiến và hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán nói chung cũng nhƣ kế toán doanh thu , chi phí và xác định kết quả kinh doanh nói riêng. Vì vậy , việc tổ chức công tác kế toán doanh thu , chi phí và xác định kết quả kinh doanh một cách khoa học , hợp lý và phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc thu thập , xử lý và cung cấp thông tin cho doanh nghiệp , cơ quan quản lý để doanh nghiệp phát triển bền vững hơn.2 Nhiệm vục ủa kế toán doanh thu , chi phí và xác định kết quả kinh doanh Theo dõi thuế GTGT đầu ra và tình hình sử dụng hóa đơn , theo dõi các khoản phải thu khách hàng Xác định doanh thu , các khoản thu nhập khác phát sinh trong kỳ , phản ánh đúng các khoản giảm trừ doanh thu để xác định doanh thu thuần Xác định đúng chính xác đối tƣợng tính giá thành và hạch toán chính xác giá vốn .Phản ánh vào nội dung chi phí kinh doanh phải đảm bảo đúng nội dung quy định chế độ hiện hành 13 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Tính doanh thu , lợi nhuận và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Lập bảng so sánh tình hình hoạt động , kinh doanh giữa các kỳ của công ty, đƣa ra những ƣu điểm cần phát huy và nhƣợc điểm khắc phục 1.3 Một số khái niệm cơ bản về doanh thu , chi phí và xác định kết quả kinh doanh 1.1 Doanh thu Doanh thu là tổng các giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu đƣợc trong kỳ kế toán , phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngạy thông thƣờng của doanh nghiệp , góp phần làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu. Doanh thu bao gồm : Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu đƣợc từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán ( nếu có ) trong một kỳ kế toán của hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo chuẩn mực số 14 “ Doanh thu và thu nhập khác “ ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trƣởng BTC thì doanh thu bán hàng đƣợc ghi nhận khi thỏa mãn 5 điều kiện : - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gàn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho ngƣời mua - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa nhƣ ngƣời sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa - Doanh thu đƣợc xác định tƣơng đối chắc chắn - Doanh nghiệp đã thu đƣợc hoặc sẽ thu đƣợc lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng - Xác định đƣợc chi phi liên quan đến giao dịch bán hàng 14 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Doanh thu cung cấp dịch vụ đƣợc ghi nhận khi kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ đƣợc xác định một cách tin cậy.
Trƣờng hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ kinh doanh thì doanh thu đƣợc ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập bảng cân đối kế toán của kỳ đó. Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ đƣợc xác định khi thỏa mãn cả 4 điều kiện : - Doanh thu đƣợc xác định tƣơng đối chắc chắn - Xác định đƣợc phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập bảng cân đối kế toán - Có khả năng thu đƣợc lợi ích kinh tế từ hoạt động giao dịch cung cấp dịch vụ đó - Xác định đƣợc chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó Thời điểm ghi nhận doanh thu theo các phƣơng thức bán hàng - Phương thức bán hàng trực tiếp cho khách hàng: Theo phƣơng thức này, căn cứ vào hợp đồng mua bán đã đƣợc ký kết , bên mua cử cán bộ đến nhận hàng tại kho của doanh nghiệp. Khi nhận hàng xong , ngƣời nhận hàng khí xác nhận vào hóa đơn bán hàng và số hàng đó đƣợc xác định là tiêu thụ, ngƣời bán có quyền ghi nhận doanh thu - Phương thức gửi hàng cho khách : Là phƣơng thức bên bán gửi hàng đi cho khách theo các điều kiện của hợp đồng kinh tế đã kí kết. Số hàng gửi đi vẫn thuộc quyền kiểm soát của bên bán , khi khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì lợi ích và rủi ro đƣợc giao toàn bộ cho ngƣời mua , giá trị hàng hóa đã đƣợc thực hiện và là thời điểm bên bán đƣợc ghi nhận doanh thu bán hàng - Phương thức gửi đại lý , ký gửi : 15 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Theo phƣơng thức này , doanh nghiệp xuất kho thành phẩm hàng hóa gửi đi bán cho khách hàng theo hợp đồng ký kết giữa hai bên.
Khi hàng xuất kho gửi đi bán thì hàng chƣa xác định là tiêu thụ. Hàng gửi bán chỉ hạch toán vào doanh thu khi doanh nghiệp đã nhận đƣợc tiền bán hàng do khách hàng trả , khách hàng đã nhận đƣợc hàng và chấp nhận thanh toán , khách hàng đã ứng trƣớc tiền mua hàng về số hàng gửi đi bán. Chỉ khi nào đƣợc ngƣời mua chấp nhận thì số hàng đó mới chính thức coi là tiêu thụ và doanh nghiệp có quyền ghi nhận doanh thu. - Phương thức bán hàng trả chậm ,trả góp : Theo phƣơng thức này , khi bán hàng doanh nghiệp ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán hàng trả ngay , khách hàng đƣợc chậm trả tiền hàng và phải chịu lãi chậm trả theo tỷ lệ quy định trong hợp đồng mua bán hàng.
Phần lãi chậm trả đƣợc ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá trả một lần ngay từ đầu không bao gồm tiền lãi về trả chậm , trả góp. - Phương thức hàng đổi hàng : Theo phƣơng pháp này doanh nghiệp lấy sản phẩm của mình quy ra giá cả trên thị trƣờng rồi dùng số tiền quy đổi đó để mua sản phẩm của đợn vị khách. Trong trƣờng hợp này, doanh thu đƣợc tính theo giá sản phẩm cùng loại mà doanh nghiệp bán thu tiền.
Các khoản giảm trừ doanh thu: Chiết khấu thƣơng mại, giảm giá hàng bán , hàng bán bị trả lại , thuế tiêu thụ đặc biệt , thuế xuất khẩu , thuế GTGT nộp theo phƣơng pháp trực tiếp , đƣợc tính giảm trừ vào doanh thu ghi nhận ban đầu để xác định doanh thu thuần , làm cơ sở để tính kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán. Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lƣợng lớn. Khoản giảm giá có thể 16 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng phát sinh trên khối lƣợng của từng lô hàng mà khách hàng đã mua , cũng có thể phát sinh trên tổng khối lƣợng hàng lũy kế mà khách hàng đã mua trong một khoảng thời gian nhất định tùy thuộc vào chính sách chiết khấu thƣơng mại của bên bán. Giảm giá hàng bán : là giá trị khối lƣợng hàng bán đã xác định là tiêu thu bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán do các nguyên nhân nhƣ : vi phạm cam kết , vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị mất , kém chất lƣợng , không đúg chủng laoji quy cách.
Khi doanh nghiệp ghi nhận giá trị hàng bán bị trả lại đồng thời ghi nhận giảm tƣơng ứng giá vốn bán trong kỳ Các loại thuế phải nộp Nhà nước : - Thuế tiêu thụ đặc biệt đƣợc coi là một trong các khaorn làm giảm doanh thu phát sinh khi doanh nghiệp cung cấp các loại sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ( hoặc các loại dịch vụ ) thuộc đối tƣợng chịu thế TTĐB. - Thuế xuât khẩu đƣợc coi là một trong các khoản giảm trừ doanh thu phát sinh khi doanh nghiệp có hàng hóa đƣợc phép xuất khẩu qua cửa khẩu hoặc biên giới. Doanh nghiệp phải có nghĩa vụ nộp thuế xuất khẩu. Trong doanh thu của hàng xuất khẩu đã bao gồm số thuế xuất khẩu phải nộp vào ngân sách Nhà nƣớc.
- Thuế GTGT tính theo phƣơng pháp trực tiếp là tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất tới tiêu dùng. Thuế GTGT phải nộp tƣơng ứng với số doanh thu đã đƣợc xác định trong kỳ báo cáo .