phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Nguyên Hoàng Chƣơng 3: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Nguyên Hoàng 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về kế toán bán hàng và xác định kết quả hoạt động kinh doanh 1.1 Một số khái niệm liên quan đến bán hàng * Quá trình bán hàng của doanh nghiệp là quá trình xuất giao hàng hoá giừa người mua và người nhận được hàng trả tiền hay chấp nhận trả tiền. * Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như: bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). - Các khoản giảm trừ doanh thu là số tiền người bán thưởng, giảm trừ cho khách hàng khi họ mua hàng.
Các khoản giảm trừ doanh thu gồm có: Giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả lại - Giảm giá hàng bán: là số tiền giảm trừ cho khách hàng do các nguyên nhân thuộc về người bán như hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời hạn, địa điểm trong hợp đồng, hàng lạc hậu - Chiết khấu thương mại: là các khoản mà người bán giảm trừ cho người mua với số lượng hàng hoá lớn. Chiết khấu thương mại được ghi trong các hợp đồng mua bán và cam kết mua bán hàng. - Hàng bán bị trả lại: Là số hàng đã được coi là tiêu thụ nhưng bị người mua trả lại và từ chối thanh toán. Tương ứng với hàng bán bị trả lại là giá vốn của hàng bán bị trả lại( tính theo giá vốn khi bán) và doanh thu của hàng bán bị trả lại cùng thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng bán bị trả lại.
- Chiết khấu thanh toán: là khoản mà người bán giảm trừ cho người mua khi thanh toán tiền trước thời hạn. Chiết khấu thanh toán được ghi trong các hợp đồng mua bán và cam kết mua bán hàng. 11 Giá vốn hàng bán là giá thực tế xuất kho của thành phẩm, hàng hoá hoặc là giá thành thực tế lao vụ, dịch vụ hoàn thành đã được xác định là tiêu thụ và các khoản khác được tính vào giá vốn để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ Chi phí tài chính là những chi phí gồm các khoản chi phí hoặc các khoản lỗ có liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính, chi phí đi vay và cho vay vốn,chiết khấu thanh toán cho khách hàng, chi phí góp vốn liên doanh, chi phí chuyển nhượng chứng khoán ngắn hạn, chi phí giao dịch bán chứng khoán, đầu tư khác, khoản lỗ về chênh lệch tỷ giá ngoại tệ và bán ngoại tệ… Chi phí bán hàng là toàn bộ chi phí có liên quan đến hoạt động bán hàng và tiêu thụ sản phẩm của toàn doanh nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ chi phí có liên quan đến hoạt động quản lý kinh doanh quản lý hành chính và quản lý điều hành của toàn doanh nghiệp.
Kết quả kinh doanh là kết quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm ,hàng hoá và được biểu hiện qua chỉ tiêu lãi (lỗ) về tiêu thụ 1.2 Đặc điểm của hoạt động bán hàng Quá trình bán hàng là quá trình hoạt động kinh tế bao gồm 2 mặt: Doanh nghiệp đem bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ đồng thời đã thu được tiền hoặc có quyền thu tiền của người mua. Đối với doanh nghiệp XDCB, giá trị của sản phẩm xây lắp được thực hiện thông qua công tác bàn giao công trình XDCB hoàn thành. Hàng hoá cung cấp nhằm để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của xã hội gọi là bán ra ngoài. Trường hợp, hàng hoá cung cấp giữa các đơn vị trong cùng một công ty, tổng công ty, được gọi là bán hàng trong nội bộ.
Quá trình bán hàng thực chất là quá trình trao đổi quyền sở hữu giữa người bán và người mua trên thị trường hoạt động.3 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán bán hàng 1.1 Vai trò của kế toán bán hàng Tiêu thụ hàng hoá là quá trình các Doanh nghiệp thực hiện việc chuyển hoá vốn sản xuất kinh doanh của mình từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ và 12 hình thành kết quả tiêu thụ, đây là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong doanh nghiệp thương mại, hàng hoá là tài sản chủ yếu và biến động nhất, vốn hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số vốn lưu động c ng như toàn bộ vốn kinh doanh của Doanh nghiệp cho nên kế toán hàng hoá là khâu quan trọng đồng thời nghiệp vụ tiêu thụ và xác đinh kết quả tiêu thụ quyết định sự sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. Do tính chất quan trọng của bán hàng và xác định kết quả kinh doanh như vậy đòi hỏi kế toán bán hàng và xác định kết quả tiêu kinh doanh có vai trò hết sức quan trọng Như vậy, tiêu thụ là thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng, đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Tiêu thụ là khâu lưu thông hàng hoá là cầu nối trung gian giữa một bên sản xuất phân phối và một bên là tiêu dùng.
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường thì tiêu thụ được hiểu theo nghĩa rộng hơn: Tiêu thụ là quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, tổ chức mua hàng hoá và xuất bán theo yêu cầu của khách hàng nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Tiêu thụ hàng hoá có vai trò to lớn trong việc cân đối giữa cung và cầu, thông qua việc tiêu thụ có thể dự đoán được nhu cầu của xã hội nói chung và của từng khu vực nói riêng, là điều kiện để phát triển cân đối trong từng nghành từng vùng và trên toàn xã hội. Qua tiêu thụ, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá mới được thực hiện. Tiêu thụ hàng hoá là cơ sở hình thành nên doanh thu và lợi nhuận, tạo ra thu nhập để bù đắp chi phí bỏ ra, bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh thông qua các phương thức tiêu thụ.
Nếu khâu tiêu thụ hàng hoá của mỗi doanh nghiệp được triển khai tốt nó sẽ làm cho quá trình lưu thông hàng hoá trên thị trường diễn ra nhanh chóng giúp cho doanh nghiệp khẳng định được uy tín của mình nhờ đó doanh thu được nâng cao. Như vậy tiêu thụ hàng hoá có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.2 Nhiệm vụ kế toán bán hàng Để thực hiện được quá trình bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải phát sinh các khoản giảm chi phí làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ. Dưới hình thức các khoản tiền đã chi, các khoản khấu trừ vào tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ làm giảm vốn chủ sở hữu. Đồng thời doanh nghiệp c ng thu được các khoản doanh thu và thu nhập khác, đó là tổng giá trị các lợi ích kinh tế thu được trong kỳ phát sinh từ các hoạt động góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu Sau một quá trình hoạt động doanh nghiệp xác dịnh được kết quả của từng hoạt động.
trên cơ sở so sánh doanh thu, thu nhập với chi phí của từng hoật động. Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phải được phân phối và sử dụng theo đúng mục đích phù hợp với cơ chế tài chính quy định cho từng loại hình doanh nghiệp cụ thể Để đáp ứng các nhu yêu cầu về quản lý thành phẩm, hàng hoá; bán hàng xác định kết quả và phân phối kết quả các hoật động. Kế toán phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây: - Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời chính xác tình hình hiện có và sự biến động của từng loại thành phẩm, hàng hoá theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng chủng loại và giá trị - Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời và chính xác các khoản doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp, đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu của khách hàng. - Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát tìnhh hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và tình hình phân phối kết quả từng hoạt động - Cung cấp và thông tin kế toán phục vụ cho việc lập Báo cáo tài chính và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng , xác định và phân phối kết quả.4 Các phƣơng thức bán hàng và các phƣơng thức thanh toán 1.1 Các phƣơng thức bán hàng Hiện nay, trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại thường có các phương thức bán hàng như sau: a.
Các phƣơng thức bán buôn Bán buôn là phương thức doanh nghiệp bán hàng cho người trung gian, không bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Đặc trưng của bán buôn là bán với số lượng lớn, khi chấm dứt quá trình mua bán thì hàng hoá chưa đến tay người tiêu dùng mà phần lớn hàng hoá còn nằm trong lĩnh vực lưu thông hoặc lĩnh vực sản xuất chế biến. Thông thường, bán buôn được chia làm hai phương thức: Bán buôn qua kho và bán buôn giao thẳng. • Bán buôn qua kho Đây là hình thức bán buôn mà hàng hoá được mua vào, dự trữ trong kho của doanh nghiệp sau đó được xuất ra để tham gia vào quá trình bán hàng.
Có hai phương thức bán hàng qua kho: - Bán buôn qua kho trực tiếp: Theo phương thức này, người mua sẽ phải đến kho để trực tiếp mua hàng với số lượng lớn. Bên mua sẽ cử người đại diện mang giấy uỷ nhiệm đến kho của bên bán trực tiếp nhận và áp tải hàng về. Bên bán xuất kho hàng hoá giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng đã thanh toán hoặc chấp nhận nợ thì hàng hoá được coi là tiêu thụ.
- Bán buôn gửi hàng: Theo phương thức này, người bán phải chuyển hàng đến kho người mua hàng với số lượng lớn. Bên bán xuất kho hàng hoá vận chuyển và giao trực tiếp tại kho bên mua.