Chương I: Tổng quan nghiên cứu về kế toán bán nhóm hàng máy tính tại Trung tâm mua sắm Nguyển Kim Tràng Thi. Chương II: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàng trong Doanh nghiệp Thương mại Luan van Chương III: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng bán nhóm hàng máy tính tại Trung Tâm mua sắm Sài Gòn Nguyễn Kim Tràng Thi. Chương IV: Các kết luận và đề xuất giải pháp hoàn thiện kế toán bán nhóm hàng máy tính tại Trung Tâm mua sắm Sài Gòn Nguyễn Kim Tràng Thi. Luan van CHƯƠNG II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM, ĐỊNH NGHĨA, LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG. Theo chuẩn mực kế toán số 14 – Doanh thu và thu nhập khác, bán hàng là bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất và bán hàng hóa mua vào. Như vậy, bán hàng còn có thể hiểu là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ người bán sang người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ qua nhiều phương thức thanh toán khác nhau của người mua. Các phương thức thanh toán chủ yếu trong DNTM là bán buôn, bán lẻ và bán đại lý.
Phương thức bán buôn hàng hóa là phương thức bán hàng cho các DNTM khác, các đơn vị sản xuất… để thực hiện bán ra hoặc gia công chế biến rồi bán ra. Đặc điểm của bán buôn hàng hóa là hàng hóa vẫn nằm trong lưu thông chưa đưa vào lĩnh vực tiêu dùng, do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chưa được thực hiện. Hàng hóa bán buôn thường được bán theo lô hoặc với số lượng lớn, giá biến động tùy thuộc vào khối lượng bán và phương thức thanh toán. Trong bán buôn bao gồm 2 phương thức: Bán buôn hàng hóa qua kho và bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng (không nhập qua kho của doanh nghiệp).
Phương thức bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế, các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Bán hàng theo phương thức này có đặc điểm là hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ. Bán lẻ có thể thực hiện dưới các Luan van hình thức sau: bán lẻ thu tiền tập trung, bán lẻ thu tiền trực tiếp, bán lẻ theo hình thức tự phục vụ và bán lẻ hàng hóa theo hình thức trả góp.
Ngoài ra còn có phương thức bán hàng đại lý là phương thức bán hàng mà DNTM giao hàng cho cơ sở nhận bán đại lý, kí gửi để cơ sở này trực tiếp bán hàng. Bên nhận làm đại lý ký gửi sẽ trực tiếp bán hàng và được hưởng hoa hồng đại lý bán, số hàng giao đại lý này vẫn thuộc quyền sở hữu của DNTM cho đến khi DN được cơ sở đại lý, ký gửi thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán hay thông báo về số hàng đã được bán đi. Sau khi bên mua nhận hàng và chấp nhận thanh toán thì bên bán có thể thu tiền hàng của bên mua theo nhiều phương thức khác nhau do hai bên tự thỏa thuận. Hiện nay, các DNTM thường áp dụng các phương thức thanh toán là thanh toán trực tiếp và thanh toán trả chậm.
Phương thức thanh toán trực tiếp là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao từ người mua sang người bán sau khi quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao. Phương thức thanh toán chậm trả là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu về hàng hóa. Trên thực tế các DNTM có thể dùng nhiều hình thức thanh toán một cách nhanh chóng, tiện lợi và an toàn như: Thanh toán bằng tiền mặt, qua ngân hàng (bằng séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi). Ngay sau khi bên mua đồng ý thanh toán số hàng được mua thì bên bán ghi nhận giá trị số hàng này vào doanh thu của doanh nghiệp.
Theo VAS 14 (đoạn 3) doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu thuần là tổng thu nhập của doanh nghiệp do tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa,cung cấp các dịch vụ cho bên ngoài sau khi trừ các khoản thuế (thuế tiêu thụ đặc Luan van biệt, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp phải nộp) và các khoản giảm trừ (chiết khấu, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại). Trong đoạn còn giải thích một số thuật ngữ liên quan như: Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém chất lượng, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
Giá trị hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã được xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do người mua thanh toán tiền hàng trước thời hạn theo hợp đồng. Giá vốn hàng bán: Là trị giá vốn của hàng hoá đã tiêu thụ. Đối với DNTM thì giá vốn được hình thành trên cơ sở giá mua của số hàng hoá đã bán trong kỳ.
Các phương thức bán hàng chủ yếu trong DNTM là bán buôn, bán lẻ. Bán buôn hàng hóa được hiểu là phương thức bán mà kết thúc quá trình bán hàng, hàng hoá vẫn còn trong lưu thông. Bán lẻ hàng hoá được hiểu là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về để tiêu dùng nội bộ. Đặc điểm của phương thức bán lẻ là hàng hoá đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng.
Ngoài ra còn có các phương thức bán hàng khác như phương thức gửi bán đại lý; phương thức bán hàng trả góp, trả chậm. Theo phương thức gửi bán đại lý thì DNTM giao hàng cho cơ sở nhận bán đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Bên đại lý sẽ trực tiếp bán hàng và thanh toán tiền cho DNTM và được hưởng hoa hồng đại lý bán. Phương thức bán hàng trả chậm, trả góp là phương thức mà DNTM dành cho Luan van người mua ưu đãi được trả tiền hàng trong kỳ.
DNTM được hưởng thêm khoản chênh lệch giữa giá bán trả góp và giá bán thông thường theo phương thức trả tiền ngay gọi là lãi trả góp. MỘT SỐ LÝ THUYẾT KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP 2. Nội dung các chuẩn mực kế toán Việt Nam liên quan đến bán hàng 2. Chuẩn mực số 14 – “Doanh thu và thu nhập khác” Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác.
Nội dung của chuẩn mực tại điều 04 ghi: doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu (ví dụ: Khi người nhận đại lý thu hộ tiền hàng cho đơn vị chủ hàng, thì doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng). Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu. Theo điều 09 trong chuẩn mực, Tiêu chuẩn nhận biết giao dịch được áp dụng riêng biệt cho từng giao dịch.
Trong một số trường hợp, các tiêu chuẩn nhận biết giao dịch cần áp dụng tách riêng cho từng bộ phận của một giao dịch đơn lẻ để phản ánh bản chất của giao dịch đó. Ví dụ, khi trong giá bán của một sản phẩm có một khoản định trước cho việc cung cấp dịch vụ sau bán hàng thì khoản doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ sau bán hàng sẽ được dời lại cho đến khi doanh nghiệp thực hiện dịch vụ đó. Tiêu chuẩn nhận biết giao dịch còn được áp dụng cho hai hay nhiều giao dịch đồng thời có quan hệ tổng thể. Ví dụ, doanh nghiệp thực hiện việc bán hàng và đồng thời kí một hợp Luan van đồng khác để mua lại chính các hàng hóa đó sau một thời gian phải đồng thời xem xét cả hai hợp đồng và doanh thu không được ghi nhận.
Khi bán hàng hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi không được coi là một giao dịch tạo doanh thu. Còn nếu trao đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo doanh thu. Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được. Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với người mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đó thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiếu khấu thanh toán, giảm giá hàng bán, và hàng bán bị trả lại.(Đoạn 06) Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi xuất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai (đoạn 07).