phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc thiết kế gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Chƣơng 2: Thực trạng về hoạt động xuất khẩu sản phẩm sang thị trƣờng EU của Xí nghiệp Thắng Lợi – Chi nhánh Công ty cổ phần Phú Tài. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động xuất khẩu sản phẩm sang thị trƣờng EU tại Xí nghiệp Thắng Lợi – Chi nhánh công ty cổ phần Phú Tài. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1.
KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu hàng hóa Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ “Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận Thương mại Quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.” Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ để thanh toán. Tiền tệ để thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với hai quốc gia. Mục đích của hoạt động xuất nhập khẩu là khai thác đƣợc lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế, mang ngoại tệ về cho các quốc gia.
Khi trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia là có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia vào hoạt động này. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thƣơng. Nó đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hóa nhƣng cho đến nay nó đã phát triển rất mạnh và đƣợc biểu hiện dƣới nhiều hình thức.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tƣ liệu sản xuất, máy móc thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói riêng. Theo Luật Thƣơng mại (2005): “Xuất khẩu là việc đƣa hàng hóa, dịch vụ ra ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định pháp luật”. Vai trò của xuất khẩu Quốc gia cũng giống nhƣ con ngƣời không thể tồn tại một cách riêng rẽ mà không cần đến sự trao đổi thƣơng mại hàng hóa.
Chính vì thế, có thể nói xuất khẩu là một trong những yếu tố tạo đà thúc đẩy sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Hoạt động xuất khẩu không chỉ có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân mà còn đối với các doanh nghiệp tham gia. Vai trò của nó đƣợc thể hiện qua các mặt sau: 6 1. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với mỗi quốc gia - Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc.
Ở các nƣớc kém phát triển, một trong những vật cản chính đối với sự tăng trƣởng kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn. Vì vậy, nguồn vốn huy động từ nƣớc ngoài đƣợc coi là nguồn chủ yếu của họ cho quá trình phát triển. Nhƣng mọi cơ hội đầu tƣ hoặc vay nợ từ nƣớc ngoài và quốc tế chỉ tăng lên khi các chủ đầu tƣ và ngƣời cho vay thấy đƣợc khả năng xuất khẩu của nƣớc đó, vì đây là nguồn chính để đảm bảo nƣớc này có thể trả đƣợc nợ. Bƣớc đi thích hợp nhất đối với tất cả các nƣớc đang phát triển là tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc nhằm khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển.
Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa đòi hỏi rất nhiều tiền để nhập khẩu công nghệ và thiết bị tiên tiến. Không thể phủ nhận tầm quan trọng của nguồn vốn nƣớc ngoài, nhƣng để huy động đƣợc thì không dễ. Sử dụng nguồn vốn này, nƣớc đi vay phải chịu lỗ, chịu một số thiệt thòi và phải trả sau. Vì vậy, xuất khẩu là một nguồn tài trợ rất quan trọng.
Xuất khẩu ngoại hối tạo tiền đề cho nhập khẩu, là yếu tố quyết định quy mô và tốc độ tăng trƣởng của hoạt động nhập khẩu. - Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Dƣới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã và đang thay đổi mạnh mẽ. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Thứ nhất, chỉ xuất khẩu sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa. Trong trƣờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản xuất về cơ bản chƣa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự dƣ thừa của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trƣởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển. Thứ hai, coi thị trƣờng thế giới để tổ chức cơ hội phát triển. Điều này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy xuất khẩu.
Với đặc điểm quan trọng là tiền tệ sản xuất sử dụng làm phƣơng tiện thanh toán, xuất khẩu góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ ở một quốc gia. Đặc biệt, với các nƣớc đang phát triển đồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ có đƣợc nhờ xuất 7 khẩu. Có thể thấy xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa cung cấp ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trƣởng và phát triển kinh tế. - Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân.
Xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông qua việc sản xuất xuất khẩu. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của ngƣời dân. - Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao có tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau.
Hoạt động xuất khẩu là cơ sở tiền đề vững chắc để xây dựng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo theo các mối quan hệ khác phát triển nhƣ du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế…ngƣợc lại, sự phát triển của các ngành này lại tác động trở lại hoạt động xuất khẩu làm cơ sở hạ tầng cho hoạt động xuất khẩu phát triển. Vai trò của xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Cùng với sự bùng nổ của nền kinh tế toàn cầu thì xu hƣớng vƣơn ra thị trƣờng quốc tế là một xu hƣớng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Xuất khẩu là một trong những con đƣờng quen thuộc để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch phát triển, mở rộng thị trƣờng của mình. Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra.
Nhờ có xuất khẩu mà thƣơng hiệu của doanh nghiệp không chỉ có khách hàng trong nƣớc biết đến mà còn có mặt ở thị trƣờng nƣớc ngoài. Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó nâng cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu… phục vụ cho quá trình phát triển. Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh doanh. Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ của chu kỳ sống của một sản phẩm.
Xuất khẩu tất dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lẫn nhau giữa các đơn vị tham gia xuất khẩu trong và ngoài nƣớc. Đây là một trong những nguyên nhân buộc các doanh nghiệp tham gia phải nâng cao chất lƣợng hàng hóa xuất khẩu, chú ý đến giá thành sản 8 phẩm để có thể phù hợp với khách hàng mà còn tiết kiệm đƣợc các nguồn lực của doanh nghiệp. Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút đƣợc nhiều lao động và tăng thêm thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ công nhân viên đồng thời tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nƣớc ngoài dựa trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
Các phƣơng thức xuất khẩu Để tăng kim ngạch xuất khẩu, một doanh nghiệp thƣờng áp dụng nhiều phƣơng thức kinh doanh xuất khẩu khác nhau. Sau đây là các phƣơng thức kinh doanh xuất khẩu phổ biến nhất: 1. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các loại hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nƣớc tới khách hàng nƣớc ngoài thông qua các tổ chức của mình. Trong trƣờng hợp doanh nghiệp tham gia xuất khẩu là doanh nghiệp thƣơng mại không tự sản xuất ra sản phẩm thì việc xuất khẩu bao gồm hai công đoạn: (1) thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu với các đơn vị, địa phƣơng trong nƣớc và (2) đàm phán ký kết với doanh nghiệp nƣớc ngoài, giao hàng và thanh toán tiền hàng.
Phƣơng thức này có ƣu điểm là thông qua đàm phán thảo luận trực tiếp dễ dàng đi đến thống nhất và ít xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc, do đó giảm đƣợc chi phí trung gian và làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp; có nhiều điều kiện phát huy tính độc lập của doanh nghiệp; chủ động trong việc tiêu thụ hàng hoá sản phẩm của mình. Tuy nhiên, bên cạnh những ƣu điểm thì phƣơng thức này còn bộc lộ một số nhƣợc điểm nhƣ: dễ xảy ra rủi ro; nếu không có cán bộ xuất nhập khẩu có đủ trình độ và kinh nghiệm khi tham gia ký kết hợp đồng ở một thị trƣờng mới thì dễ mắc phải sai lầm gây bất lợi cho doanh nghiệp; khối lƣợng hàng hoá khi tham giao giao dịch thƣờng phải lớn thì mới có thể bù đắp đƣợc chi phí trong việc giao dịch.