Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Đây là chương đầu tiên của bài nghiên cứu nhằm giới thiệu cái nhìn tổng quan về tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu. Bên cạnh đó là tìm hiểu những nghiên cứu đi trước, chỉ ra những khoảng trống của những nghiên cứu trước, từ đó tiến hành bổ sung và đưa ra những đóng góp mới ở những chương tiếp theo. Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động mua hàng trong doanh nghiệp sản xuất.
Nội dung của chương 2 tập trung vào việc hệ thống hóa lý luận về mua hàng tại DN sản xuất. Bao gồm các khái niệm, đặc điểm, vai trò, quy trình của mua hàng trong DN. Bên cạnh đó, phần cuối của chương này chỉ ra các yếu tố tác động đến hoạt động mua hàng của DN. Chương 3: Thực trạng hoạt động mua hàng tại công ty Cổ phần MK Vision.
Ở phần đầu chương 3, khóa luận giới thiệu tổng quan về công ty Cổ phần MK Vision. Trên cơ sở dữ liệu thứ cấp thu được, phần tiếp theo của chương 3 tập trung phân tích ảnh hưởng của các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến hoạt động mua hàng của công ty. Đồng thời phân tích thực trạng từng bước trong quy trình mua. Cuối cùng, đưa ra những đánh giá về thực trạng triển khai hoạt động mua hàng của công ty.
Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động mua hàng tại công ty Cổ phần MK Vision. Trong phần đầu chương 4, bài nghiên cứu đưa ra những dự báo về sự phát triển của thị trường camera tại Việt Nam và trên thế giới đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030. Trên cơ sở đó, kết hợp với những thực trạng đã phân tích được ở chương 3, đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện hoạt động mua hàng tại công ty MK Vision. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.1 Một số vấn đề cơ bản về mua hàng tại doanh nghiệp 2.1 Khái niệm và chức năng mua hàng trong doanh nghiệp sản xuất 2.1 Khái niệm mua hàng Từ phân tích ở phần tổng quan, có thể thấy thông qua việc nghiên cứu các hoạt động mua hàng trong DN, khái niệm về mua hàng đã được đề cập đến rất chi tiết ở nhiều góc độ khác nhau.
Trải qua hơn 170 năm lịch sử tiến hóa của mua và quản trị nguồn cung, mỗi giai đoạn đã đóng góp các khía cạnh và nền tảng khác nhau vào sự phát triển của mua hàng. Những năm 1970, mua hàng được coi là hoạt động mang tính chất hành chính, đóng vai trò thụ động và có chức năng hoạt động trong một môi trường biệt lập. Đến năm 1832 thuật ngữ về “material man” và “material management” bắt đầu được xuất hiện; “material men” được định nghĩa là người chọn vật liệu, mua, nhận và cung cấp tất cả các mặt hàng được yêu cầu. Lúc này hoạt động mua hàng được nhìn nhận như một công việc riêng biệt tách ra khỏi bộ phận bán hàng.
Năm 2003 Cousins và Spekmen định nghĩa mua hàng là việc quản lý dòng đầu vào của công ty, cụ thể là NVL thô và dịch vụ của tổ chức. Mua sắm là một quá trình có hệ thống để quyết định mua gì, khi nào và bao nhiêu; quá trình đảm bảo đáp ứng yêu cầu về thời gian, số lượng và chất lượng hàng hóa(Burt, 2006). Van Weele (2010) định nghĩa mua hàng là việc quản lý nguồn lực bên ngoài để đảm bảo việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho việc vận hành, duy trì và quản lý các hoạt động của DN một cách thuận lợi nhất. Trong chuỗi giá trị mở rộng của M.
Porter, mua (procurement) được xem là liên kết chủ yếu và có vai trò then chốt giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng, là một phần chiến lược chuỗi cung ứng, bao gồm những hoạt động liên quan đến xác định nhu cầu, định vị và lựa chọn nhà cung cấp, đàm phán các điều khoản, theo dõi và đánh giá để đảm bảo hiệu suất và phát triển NCC. Trong rất nhiều khái niệm về mua hàng được đưa ra, với quan điểm tiếp cận hoạt động mua hàng là nghiệp vụ, quá trình thực hiện các bước trong việc mua sắm để có được nguồn nguyên liệu đầu vào và trang thiết bị phục vụ cho hoạt động xuất kinh doanh của DN. Vì vậy trong khóa luận này, sinh viên sử dụng định nghĩa “Mua hàng là hệ thống các mặt công tác thực hiện chức năng và các quyết định nhằm có được hàng hóa, vật tư đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh” (Monczka & cộng sự, 2021) 2.2 Chức năng của mua hàng trong doanh nghiệp Hoạt động mua chú trọng vào bốn chức năng ở các cấp độ khác nhau: Đầu tiên là đặt hàng, đây là chức năng thuần túy, bao gồm các hoạt động hành chính dưới hình thức triển khai các đặt hàng Thứ hai là lựa chọn NCC. Lựa chọn NCC tiềm năng từ danh sách các NCC đã được phê duyệt và đàm phán các thỏa thuận.
Thứ ba là tìm nguồn cung ứng. Đây là quyết định tầm chiến lược, liên quan đến các quyết định mua trước khi danh sách NCC được phê duyệt. 8 Cuối cùng là quản lý cung ứng mở rộng chức năng của mua hàng, bằng việc đồng bộ hóa các dòng NVL đầu vào tới các hoạt động khác của công ty.2 Các mục tiêu và vai trò của mua hàng đối với doanh nghiệp sản xuất 2.1 Các mục tiêu của mua hàng đối với doanh nghiệp sản xuất Mua có tầm ảnh hưởng ngày càng rộng lớn trong các chuỗi cung ứng, là liên kết chủ yếu và là quá trình tương tác cốt lõi giữa các thành viên chuỗi. Monczka (2021) chỉ ra rằng, để đảm bảo một quá trình mua hàng hiệu quả cần nhắm đến 5 mục tiêu sau: Thứ nhất, đảm bảo cung ứng liên tục: mua phải đảm bảo mục tiêu duy trì liên tục dòng nguyên liệu đầu vào nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất.
Đáp ứng liên tục yêu cầu của nhóm khách hàng nội bộ trong DN về cung cấp vật tư, nguyên liệu, hàng hóa và dịch vụ đầu vào có chất lượng. Quá trình sản xuất phải được duy trì và đảm bảo diễn ra liên tục, không bị ngắt quãng. Thứ hai, quản lý quá trình mua hiệu quả: đòi hỏi bộ phận mua phải quản lý hoạt động nội bộ một cách hiệu quả, bằng việc phát triển đội ngũ nhân viên mua, xây dụng, phát triển chính sách và thủ tục mua… Thứ ba, phát triển nguồn cung ứng: đây là mục tiêu quan trọng nhằm lựa chọn, phát triển và duy trì nguồn cung. Từ đó cho phép mua bám sát các điều kiện thực tại trong thị trường, quản lý mạng lưới cơ sở cung ứng có khả năng cung cấp các sản phẩm có lợi thế về giá cả, chất lượng, công nghệ…đồng thời duy trì tốt mối quan hệ thân thiết với các NCC bên ngoài.
Thứ tư, phát triển mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận chức năng khác: mục tiêu này đòi hỏi bộ phận mua phải duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác lành mạnh với các bộ phận chức năng khác. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ, cung cấp thông tin và tư vấn khi cần thiết để đảm bảo hoạt động hiệu quả của toàn bộ tổ chức. Cuối cùng, hỗ trợ chiến lược chung của tổ chức: mục tiêu này nhằm tạo ra sự thống nhất với các mục tiêu chung của tổ chức. Khi bộ phận mua quản lý tốt mối mạng lưới cung cấp, lợi thế về giá, chất lượng, công nghệ và hợp tác tốt với NCC…sẽ góp phần hỗ trợ tích cực cho các mục tiêu chiến lược kinh doanh của công ty.2 Vai trò của mua hàng đối với doanh nghiệp sản xuất Từ những phân tích mục tiêu của mua hàng, có thể thấy rằng mua không chỉ đơn giản là chuỗi các hoạt động giao dịch và hành chính mà nó được coi là một chức năng chiến lược liên quan đến việc quản lý và phát triển tài nguyên.
Tiết kiệm 1% trong mua hàng tương đương với đạt mức tăng 10% doanh thu (Baily, 1998). Tại các DN sản xuất, mua đảm bảo rằng sản phẩm, dịch vụ và vật tư được mua ở mức giá tốt nhất. Bộ phận mua đảm bảo rằng DN có đủ NVL phù hợp với mức giá tốt nhất tại đúng thời điểm để phục vụ cho quá trình sản xuất. Điều này cũng có nghĩa rằng những sai sót và chậm trễ trong quy trình mua có thể làm ảnh hưởng và gián đoạn đến quy trình sản xuất và toàn bộ chuỗi cung ứng của DN.
Do đó, mua hàng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với các DN sản xuất, cụ thể: 9 Mua hàng giúp tăng cường sự thỏa mãn khách hàng: nhờ vào việc đáp ứng đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào đúng thời gian, số lượng và chất lượng với mức giá cạnh tranh. Là cơ sở để cung ứng sản phẩm và dịch vụ với chất lượng cao, đúng thời điểm và chi phí hợp lý, từ đó đáp ứng sự hài lòng của khách hàng. Liên kết mở rộng thị trường doanh nghiệp: mua kết nối thị trường cung ứng, nắm bắt các thông tin mới nhất về công nghệ, vật liệu, các nguồn cung ứng và các thay đổi về điều kiện thị trường. Bên cạnh đó, mua hàng còn giúp cho nhà sản xuất hiểu được các giai đoạn trong vòng đời sản phẩm và tích hợp nó vào việc quản lý mối quan hệ với NCC.
Những hiểu biết này giúp DN nắm bắt những thay đổi để điều chỉnh sản phẩm, chiến lược kinh doanh cho phù hợp để nắm bắt những cơ hội mới Phát triển các nhà cung ứng và quản lý các mối quan hệ: giúp DN linh hoạt trong việc quản lý mối quan hệ NCC và hợp tác chiến lược dài hạn. Việc có được nguồn cung ổn định, nắm được các NCC có sản phẩm, dịch vụ mới giúp doanh nghiệp đảm bảo hoạt động sản xuất ổn định trước những biến động của môi trường kinh doanh từ đó tìm kiếm vị thế cạnh tranh và sáng tạo trên thị trường. Hỗ trợ các chiến lược chức năng trong tổ chức: mua quyết định mọi yếu tố đầu vào của DN, ảnh hưởng tới quy mô kinh doanh và các quyết định vận hành của tổ chức. Bởi mua hàng có vị trí then chốt trong DN, các chiến lược về mạng lưới, sản xuất, marketing, tài chính, vận hành, bán hàng, dự trữ…đều có liên quan chặt chẽ với chiến lược mua.