PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, khi doanh nghiệp phát triển với quy mô lớn thì hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) cũng trở nên to lớn vì chủ doanh nghiệp cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc giám sát và kiểm soát các rủi ro. Hệ thống KSNB là một chức năng thường xuyên của quản lý. Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ đem lại cho doanh nghiệp các lợi ích như: Giảm bớt nguy cơ tiềm ẩn trong SXKD (sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch, tăng giá thành, giảm chất lượng dịch vụ); bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng mất mát bởi hao hụt giá, gian lận, lừa gạt, trộm cắp, đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính; đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của tổ chức cũng như các quy định của pháp luật, đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra; bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ.
Hệ thống KSNB là công cụ chủ yếu để thực hiện chức năng kiểm soát trong mọi quy trình quản lý của một đơn vị. Hệ thống KSNB cung cấp thông tin cho cả bên trong và bên ngoài của một tổ chức tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, chủ sở hữu công ty. Công ty Cổ phần đầu tư thế giới sữa là công ty hoạt động trong lĩnh vực chuyên cung cấp các sản phẩm sữa và đồ dùng cho mẹ & bé chính hãng. Với hơn 9 năm kinh nghiệm, công ty hiện nay đã tạo được nhiều uy tín trên thị trường cũng như các mối quan hệ rất tốt với nhiều đối tác lớn trong và ngoài nước.
Trên thực kể từ khi thành lập năm 2005 đến nay, công ty cổ phần đầu tư thế giới sữa đã mở thêm hơn 500 cửa hàng trên toàn quốc, đội ngũ lao động tăng thêm gần 1.000 ( một ngàn người) so với 100 người ban đầu, hệ thống logictic cũng tăng theo, từ 01 năm 2005 đến 2023 đã tăng lên 32. Đồng thời các chỉ tiêu tài chính của thế giới sữa cũng tăng mạnh qua các năm. Việc tăng trưởng mạnh luôn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, do đó, đối với công ty thế giới sữa, vấn đề an toàn trong hoạt động kinh doanh luôn được đặt lên hàng đầu, nhất là hoạt động bán hàng và thu tiền, vận chuyển. Song, trên thực tế, mặc dù hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty thế giới sữa luôn được tăng cường, nhưng việc phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn các loại rủi ro chưa đạt hiệu quả cao.
Việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ để nâng cao hiệu quả hoạt động của kiểm soát nội bộ, đáp ứng được yêu cầu là công cụ phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các rủi ro là 2 một trong những vấn đề cấp thiết đối với công ty hiện nay. Nhận thức được tầm quan trọng đó tác giả thực hiện đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty CPĐT Thế Giới Sữa” với mong muốn hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty hoạt động hiệu quả hơn. Các nghiên cứu có liên quan 2.1 Các nghiên cứu về hệ thống KSNB trên thế giới Trên thế giới các Nghiên cứu hệ thống KSNB được chia thành các nghiên cứu chi tiết như sau: 2.1 Nghiên cứu hệ thống KSNB theo hướng quản trị Đầu tiên theo COSO năm 1992 đã tiến hành nghiên cứu về hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM). Trong nghiên cứu này, ERM được xây dựng gồm 8 bộ phận bao gồm: môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát.
Vào năm 2004, COSO chính thức ban hành ERM làm nền tảng trong việc quản trị rủi ro doanh nghiệp. Ngoài ra, các nghiên cứu của các tác giả như: Laura F.Spira và Micheal Page (2002); Yuan Li, Yi Liu, Younggbin Zhao (2006) đều cho rằng KSNB có mối quan hệ với công tác quản trị doanh nghiệp. KSNB có vai trò định hướng thị trường của doanh nghiệp và KSNB có tác động đến hoạt động phát triển dịch vụ mới của doanh nghiệp. Các tác giả Varipin Mongkolsamai & Phapruke Ussahawanitchakit (2012) khi nghiên cứu ảnh hưởng của chiến lược KSNB đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết Thái Lan nhấn mạnh rằng: có bốn nhân tố tác động đến chiến lược KSNB, bao gồm: (1) Tầm nhìn điều hành minh bạch, (2) Kiến thức của nhân viên, (3) Sự đa dạng của các giao dịch kinh doanh, (4) Nhu cầu của các bên liên quan.
Tác giả William & Kwasi (2013) khi thực hiện nghiên cứu về tính hiệu quả của HTKSNB ở các ngân hàng khu vực phía đông của Ghana đã đưa ra kết luận rằng: HTKSNB hỗ trợ nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của đơn vị mình. 3 Mô hình mối liên hệ giữa KSNB với việc đạt được mục tiêu Hệ thống kiểm soát nội bộ Đạt được các mục tiêu của công ty * Kiểm soát quản lý * Tiến hành kinh doanh một cách có trật tự và hiệu quả. * Kiểm soát kế toán nội bộ * Đảm bảo an toàn tài sản. * Kiểm toán nội bộ * Phòng ngừa và phát hiện các gian lận và sai sót.
* Đảm bảo chính xác và đầy đủ hề sơ kế toán và chuẩn bị kịp thời các thông tin tài chính đáng tin cậy (Nguồn: mô hình của William & Kwasi, 2013) 2.2 Nghiên cứu HTKSNB theo hướng kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ: Trong lĩnh vực kiểm toán nội bộ, một số công trình nghiên cứu cũng đề cập đế mối quan hệ giữa KSNB và kiểm toán nội bộ, điển hình là cuốn sách của các tác giả Victor Z.Brink và Herbert Witt (1941) về “Kiểm toán nội bộ hiện đại - đánh giá các hoạt động và hệ thống kiểm soát”. Ngoài ra, hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) đã đưa ra định nghĩa và các mục tiêu KSNB bao gồm: độ tin cậy và tính trung thực của thông tin; tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định; bảo vệ tài sản; sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực; hoàn thành mục tiêu cho các hoạt động hoặc các chương trình. Các tác giả Karagiogos, Drogalas, Dimou, (2014) khi nghiên cứu tính hiệu quả của HTKSNB trong ngành ngân hàng Hy Lạp đã cho rằng ở các ngân hàng đã tồn tại và thành công thì tất cả các thành phần của KSNB đóng góp vai trò rất quan trọng trong hiệu quả của kiểm toán nội bộ.3 Nghiên cứu tác động của HTKSNB tới giá trị của doanh nghiệp Các tác giả Ge & McVay (2005) khi thực hiện các nghiên cứu về hệ thống KSNB theo yêu cầu của đạo luật SOX đã chỉ ra rằng những điểm yếu trong HTKSNB có ảnh hưởng đến giá trị của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Các tác giả Shenkir & Walker (2006) trong nghiên cứu của mình cho rằng có thể thực hiện hiệu quả đạo luật SOX, HTKSNB của doanh nghiệp phải bao gồm đầy đủ các yếu tố, dựa trên phân tích toàn diện các rủi của doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu này còn cho thấy rằng các công ty sẽ thu được ít lợi nhuận hơn các công ty khác khi công ty đó có nhiều nhược điểm về KSNB. Tác giả Doyle (2005) trong nghiên cứu của mình cũng đã chứng minh rằng các doanh nghiệp sẽ có doanh thu thấp hơn nếu có yếu kém về KSNB. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho rằng khi HTKSNB yếu kém thì nó sẽ có tác động tiêu cực đến hoạt động đầu tư vào doanh nghiệp khi BCTC của doanh nghiệp được công bố thông qua phản ứng của thị trường. Tác giả Hammersley (2007) khi thực hiện khảo sát thực nghiệm đối với 102 công ty (báo cáo có các điểm yếu trong HTKSNB) nhận thấy rằng có sự sụt giảm niềm tin của nhà đầu tư trên thị trường đối với các công ty này.
Tác giả cũng cho rằng HTKSNB yếu kém là nguyên nhân của sự sụt giảm thị giá cổ phiếu doanh nghiệp.4 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ: Năm 2009, các tác giả Angella Amudo & Eno L. Inanga đã thực hiện một nghiên cứu đánh giá HTKSNB từ Uganda. Nghiên cứu này được thực hiện trên các nước thành viên khu vực của Ngân hàng Phát triển châu Phi. Nghiên cứu đã phát triển một mô hình chuẩn trong việc đánh giá HTKSNB trong các dự án khu vực công được Uganda tài trợ bởi Ngân hàng Phát triển Châu Phi.
Mô hình thực nghiệm được Amudo và Inanga phát triển dựa vào khuôn khổ KSNB của COSO và COBIT bao gồm: Các biến độc lập là các thành phần của KSNB (bổ sung thêm biến công nghệ thông tin theo COBIT): (1) môi trường kiểm soát, (2) đánh giá rủi ro, (3) hệ thống thông tin truyền thông, (4) các hoạt động kiểm soát, (5) giám sát, (6) công nghệ thông tin. Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự thiếu hụt một số thành phần của KSNB dẫn đến kết quả vận hành của HTKSNB chưa đạt được sự hữu hiệu. 5 Tuy nhiên, các tác giả nghiên cứu cũng nêu rõ kết quả này chỉ mới điều tra ở Uganda. Việc áp dụng kết quả nghiên cứu tùy thuộc vào hoàn cảnh và đặc điểm của từng quốc gia cụ thể.
Kết quả nghiên cứu sẽ có biến đổi nếu được áp dụng vào các quốc gia có khác biệt về hoàn cảnh và đặc điểm tương ứng. Nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả Sultana và Haque (2011) từ 6 ngân hàng tư nhân niêm yết ở Bangladesh cho rằng để xác định khả năng đảm bảo hoạt động của đơn vị phù hợp với mục tiêu đề ra thì cần đánh giá cấu trúc kiểm soát nội bộ trong một đơn vị. Nghiên cứu phát triển mô hình từ khuôn khổ về KSNB theo báo cáo COSO như sau: - Các biến độc lập là các thành phần của KSNB : (1) môi trường kiểm soát, (2) đánh giá rủi ro, (3) hệ thống thông tin truyền thông, (4) các hoạt động kiểm soát, (5) giám sát.