chương 1 Chương này trình bày khái quát về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương tiếp theo, tác giả trình bày về cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quát về kiểm soát nội bộ 2.1 Khái niệm về kiểm soát Kiểm soát nghĩa là: giám sát, điều tra, so sánh thực tế với các điều kiện đã được đặt ra, duy trì hoạt động của một vật thể theo từ điển Quốc tế năm 2002,.
Còn trong từ điển về Kinh tế thì kiểm soát là cách thể hiện sự ảnh hưởng trong việc quản lý của công ty; là quyền lợi theo luật và hợp đồng liên quan đến việc sở hữu tài sản; là quyền mà có ảnh hưởng quan trọng đến việc quản lý và hoạt động của công ty hoặc là sự giám sát. Theo các nguồn thông tin khác, khái niệm về kiểm soát được hình thành khác nhau mặc dù ý nghĩa tương đối giống nhau.(2012), khi kiểm soát được định nghĩa rất cụ thể, nguyên tắc và yêu cầu của nó sẽ được mô tả chi tiết, khi đó kiểm soát trở nên hiệu quả hơn, chuyên môn hóa cao hơn. Trong các lý thuyết khoa học, những diễn giải về kiểm soát khác nhau thường liên quan đến những khía cạnh của kiểm soát và ý nghĩa của chúng trong các trường hợp khác nhau cũng có thể xác định theo nhiều cách khác phụ thuộc vào tình huống và các nhân tố bên ngoài khác. Theo Lee Summers (1991), kiểm soát được nhấn mạnh là phương tiện giám sát mà cung cấp khả năng điều chỉnh giữa tình trạng thực tế - kế hoạch và cách hoạt động của doanh nghiệp.
Ngoài ra, theo cách tiếp cận hiện đại hơn, V. Gupta (2010) chỉ ra rằng kiểm soát không chỉ là nhân tố chính ảnh hưởng đến thành quả, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và việc quản lý của nó mà còn là công cụ đánh giá cho các quyết định được thực hiện và giá trị đạt được. Về vai trò của kiểm soát, Vaclovas L.& Lukas G (2012) đã xác định kiểm soát hữu ích và hiệu quả tồn tại khi doanh nghiệp cố gắng thực hiện mục đích của nó và tránh các sai sót và gian lận.Pfister (2009), có nhiều loại kiểm soát và được nhóm thành chiến lược, quản lý và kiểm soát nội bộ.Jung (1997), kiểm soát chia làm hai loại là kiểm soát nội bộ và kiểm soát bên ngoài. Do đó, sự tồn tại của nhiều khái niệm về kiểm soát khác nhau cũng chỉ ra rằng có nhiều loại kiểm soát.
Các định nghĩa về kiểm soát được tóm tắt theo bảng dưới đây: Bảng 2.Các định nghĩa về kiểm soát Tác giả Định nghĩa Kiểm soát được định nghĩa là sự quan sát, giám sát quy trình cụ thể trong hệ thống xã hội (nhà nước, tổ chức, phòng ban…), Katkus (1997) phát triển các kết quả đạt được, so sánh và đánh giá dựa trên mục tiêu được thiết lập và chuẩn mực. Tác giả 6 Kiểm soát là phương tiện cung cấp khả năng để hạn chế và giải Biciulatis (2001) quyết những lộn xộn mà có thể làm sụp đổ hệ thống. Buskeviciute Kiểm soát được xác định là sự kiểm tra, giám sát về trách nhiệm (2008) tuân thủ, thực hiện các quyết định được hình thành hay các yêu cầu đối với các mục tiêu cụ thể. Kiểm soát là sự quản lý hoạt động và tài chính của doanh nghiệp Grupta (2010) nhằm đạt được lợi nhuận từ việc thực hiện của doanh nghiệp.
Kiểm soát là chức năng mà đảm bảo hoạt động của hệ thống Macintosh (2010) một cách hữu hiệu hoặc tạo ra lợi nhuận mong muốn. Kiểm soát là quá trình bắt đầu từ những tiêu chuẩn được thiết K.HPickett (2010) lập cụ thể và kết thúc bởi việc thực hiện thành công và sự cải tiến trong tương lai cũng như sự ngăn ngừa. AMerchant (2011) Kiểm soát là sự so sánh giữa tình trạng thực tế và theo kế hoạch. Khái niệm về KSNB Hệ thống KSNB là sự tích hợp một loạt hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo tổ chức đó hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý.
Có thể hiểu đơn giản, hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống của tất cả những gì mà một tổ chức cần làm để có được những điều muốn có và tránh những điều muốn tránh. Hệ thống KSNB là toàn bộ các chính sách và thủ tục kiểm soát được thiết lập nhằm bảo đảm hiệu năng và hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị: Bảo đảm sự tuân thủ quy định của đơn vị và pháp luật của Nhà nước: đảm bảo độ tin cậy của thông tin và bảo vệ tài sản của đơn vị. Đầu tiên khái niệm kiểm soát nội bộ (KSNB) được Hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) vào năm 1949. Kiểm soát nội bộ được định nghĩa là một kế hoạch và là cách mà tổ chức giữ an toàn cho tài sản, kiểm tra độ tin cậy của dữ liệu, làm tăng tính hữu hiệu và bảo đảm các chính sách quản lý được thiết lập.
Còn theo Hội kế toán Châu ÂU (EAA) định nghĩa về hệ thống KSNB như sau: Hệ thống KSNB là một hệ thống kiểm soát toàn diện về kinh nghiệm tài chính và các lĩnh vực khác nhau được thành lập bởi Ban quản lý nhằm: - Tiến hành kinh doanh của đơn vị trong trật tự và có tính hữu hiệu cao; - Đảm bảo tuân thủ tuyệt đối đường lối kinh doanh của Ban quản trị; 7 - Giữ an toàn tài sản; - Đảm bảo tính toàn diện và chính xác của số liệu hạch toán, những thành phần riêng lẻ của hệ thống KSNB được coi là hoạt động kiểm tra hoặc hoạt động kiểm tra nội bộ. Kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ cùng có chung mục đích, đều do con người xây dựng, thiết lập nhưng chúng có những điểm khác nhau. Kiểm soát nội bộ thường đi sâu vào chức năng vốn có của nó thể hiện thông qua những quy định, nguyên tắc và hoạt động kiểm soát. Kiểm soát nội bộ thường gắn với những hoạt động diễn ra với mục tiêu hiện tại theo yêu cầu phải đạt được của những đối tượng bên ngoài.
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), hệ thống KSNB là kế hoạch của đơn vị và toàn bộ các phương pháp, các bước công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp tuân theo. Hệ thống KSNB trợ giúp cho các nhà quản lý đạt được mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và hoạt động một cách hữu hiệu có từ việc tôn trọng các quy chế quản lý; giữ an toàn tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận; ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy. Nói đến các chính sách, thủ tục là nói về hệ thống KSNB, các bước kiểm soát do lãnh đạo đơn vị xây dựng có tính chất bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong đơn vị. Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm cả kiểm soát nội bộ và bản thân con người cùng với những phương tiện có tính chất kỹ thuật, cấu trúc hướng vào kiểm soát mang tính bền vững, ổn định, đảm bảo và lâu dài.
Hệ thống kiểm soát nội bộ thường được bản thân các lãnh đạo đơn vị xây dựng, thiết lập hướng vào kiểm soát các hoạt động trong phạm vi và trách nhiệm của đơn vị. Bản thân các đơn vị phải có trách nhiệm xây dựng, duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ khoa học, phù hợp và hiệu quả để đảm bảo kiểm soát hoạt động trong phạm vi đơn vị, ngăn ngừa sai phạm, đạt được mục tiêu, yêu cầu mà đơn vị đặt ra. Theo Cobit (2007), KSNB là 1 quá trình bao gồm các tiêu chuẩn, chính sách, cách thức hoạt động và cấu trúc của tổ chức được thiết lập để đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra và tránh được các tình huống không mong muốn. Theo Chuẩn mực kiểm toán số 315 (VSA 315) được ban hành theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC có hiệu lực từ 01/01/2014, hệ thống KSNB được định nghĩa là “quy trình do Ban quản trị, Ban Giám Đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cào tài chính, đảm bảo tính hữu hiệu trong hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan.
Theo Luật Kế toán năm 2015 cho rằng, “Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, 8 xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về hệ thống kiểm soát nội bộ. Các quan điểm về hệ thống kiểm soát nội bộ của Liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC) và quan điểm của Ủy ban các tổ chức tài trợ (COSO) cũng có sự khác nhau do yêu cầu và góc độ nhìn nhận khác nhau. Tuy nhiên, theo quan điểm chung được thừa nhận rộng rãi nhất hiện nay thì hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ các chính sách, những quy định, các thủ tục kiểm soát, các bước công việc do lãnh đạo đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị đạt kết quả mà còn quản trị rủi ro một cách hữu hiệu.
Lịch sử phát triển kiểm soát nội bộ Trong một tổ chức bất kỳ, sự thống nhất và xung đột quyền lợi chung - quyền lợi riêng của người sử dụng lao động với người lao động luôn tồn tại song hành. Nếu không có hệ thống kiểm soát nội bộ, làm thế nào để người lao động không vì quyền lợi riêng của mình mà làm những điều thiệt hại đến lợi ích chung của toàn tổ chức, của người sử đụng lao động? Làm sao quản lý được các rủi ro? Làm thế nào có thề phân quyền, ủy nhiệm, giao việc cho cấp dưới một cách chính xác, khoa học chứ không phải chỉ dựa trên sự tin tưởng cảm tính? Vì vậy, hệ thống kiểm soát nội bộ ra đời với mục tiêu quản trị rủi ro, bảo vệ tài sản, đảm bảo sự tin cậy trong báo cáo tài chính, duy trì sự tuân thủ. Để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm, yếu kém, một hệ thống KSNB hữu hiệu là điiều không thể thiếu nhằm nâng cao chất lượng trong hoạt động của tổ chức.