Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu Trình bày bối cảnh nghiên cứu, sự cần thiết của đề tài, mục tiêu, phạm vi và đối tượng của nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài. Tổng quan cơ sở lý thuyết 7 Trình bày các cơ sở lý thuyết, bao gồm tổng quan các lý thuyết, các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài, và các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài trong đó nhấn mạnh các nhân tố quyết định đến sự thành công của dự án. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế mô hình nghiên cứu, bao gồm khảo sát, thảo luận nhóm chuyên gia; phân tích các nhân tố tác động, phân tích dữ liệu; khung phân tích các nhân tố quyết định đến sự thành công của dự án WB5.
Kết quả nghiên cứu Phân tích nguyên nhân thực trạng các nhân tố quyết định thành công của dự án trong đó có so sánh, đối chiếu với thực tiễn quản lý, thực hiện dự án WB5 tại TP.HCM và các tỉnh ĐBSCL. Kết luận và kiến nghị Phần này đưa ra kết luận và kiến nghị các giải pháp gồm những đóng góp của đề tài, kiến nghị các giải pháp, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG 2.1 Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài 2.1 Dự án, dự án đầu tư xây dựng, dự án đầu tư xây dựng đường thủy, chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng, nhà thầu tư vấn Dự án: Theo Từ điển tiếng Anh OXFORD thì dự án là một chuỗi các sự việc tiếp nối được thực hiện trong khoảng thời gian giới hạn và ngân sách được xác định nhằm mục tiêu là đạt được một kết quả duy nhất nhưng được xác định rõ; hoặc theo tài liệu hướng dẫn Viện Quản lý Dự án (PMI) (PMBOK, 2000, 2006, tr.3) định nghĩa “dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ duy nhất. Tạm thời nghĩa là mọi dự án đều có một thời gian kết thúc xác định.
Duy nhất có nghĩa là sản phẩm hay dịch vụ là khác nhau trong một số cách phân biệt từ tất cả các sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự". Dự án đầu tư xây dựng: Theo Luật Xây dựng Việt Nam (2014) đã định nghĩa “dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”1. Dự án đầu tư xây dựng đường thủy: Theo Nghị định của Chính phủ2 đã quy định định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải thì Bộ GTVT có các Tổ ng cu ̣c Đường bô ̣ Viê ̣t Nam, Cu ̣c Hàng hải 1 Khoản 15, Điều 3, Luật Xây dựng 2014.
2 Khoản 23, Điều 3, Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16/03/2016 của Chính phủ. 9 Viê ̣t Nam, Cu ̣c Hàng không Việt Nam, Cục Đường sắt Việt Nam, Cục Đường thủy nô ̣i điạ Viê ̣t Nam tương ứng với 5 lĩnh vực quản lý và 5 phương thức vận tải như sau: đường bộ, hàng hải, hàng không, đường sắt, đường thủy nội địa (sau đây gọi tắt là đường thủy), và các dự án đường thủy (sau đây gọi tắt là DAĐT) là các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực giao thông đường thủy trên phạm vi cả nước Việt Nam nói chung và tại TP.HCM cũng như các tỉnh ĐBSCL nói riêng. Chủ đầu tư3 là cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng dự án. Trong phạm vi của nghiên cứu này thì Chủ đầu tư chủ yếu là Bộ Giao thông vận tải, Sở GTVT các tỉnh ĐBSSCL.
Nhà thầu xây dựng4 là nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng (sau đây gọi là Nhà thầu) là các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư xây dựng. Trong phạm vi của nghiên cứu này, đối tượng nhà thầu quan tâm là những đối tượng đã từng tham gia ít nhất một dự án đường thủy sử dụng nguồn vốn ODA tại TP.HCM và các tỉnh ĐBSCL trong giai đoạn 2007 - 2016. Nhà thầu chính là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn. Nhà thầu chính có thể là nhà thầu độc lập hoặc thành viên của nhà thầu liên danh.
Nhà thầu phụ là nhà thầu tham gia thực hiện gói thầu theo hợp đồng được ký với nhà thầu chính. Nhà thầu phụ đặc biệt là nhà thầu phụ thực hiện công việc quan trọng của gói thầu do nhà thầu chính đề xuất trong hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất trên cơ sở yêu cầu ghi trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu. Nhà thầu tư vấn5 là nhà thầu tham gia đấu thầu cung cấp các sản phẩm đáp ứng yêu cầu về kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn (sau đây gọi tắt là Tư vấn). Trong phạm vi của nghiên cứu này, đối tượng các Đơn vị tư vấn quan tâm bao gồm tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát trong và ngoài nước đã từng tham gia ít nhất một dự án đường thủy sử dụng nguồn vốn ODA tại TP.HCM và các tỉnh ĐBSCL trong giai đoạn 2007 - 2016.
3 Luật Xây dựng 2014; 4 Luật Xây dựng 2014; 5 Luật Xây dựng 2014.2 Nguồn vốn ODA Vốn ODA (Official Development Assistance) là nguồn vốn của nhà tài trợ nước ngoài cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để hỗ trợ phát triển, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, bao gồm: Vốn ODA viện trợ không hoàn lại (vốn ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ nước ngoài); và Vốn vay ODA (vốn ODA phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ nước ngoài với mức ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm nhân tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc và 25% đối với khoản vay không ràng buộc)6. Vai trò, vị trí, thực trạng nguồn vốn ODA trong xây dựng đất nước ta hơn 20 năm qua, và nguồn vốn ODA trong đầu tư phát triển các dự án giao thông nói chung và dự án đường thủy nói riêng trong giai đoạn từ năm 1993 đến này (Đính kèm Phụ lục 3).3 Những tiêu chí về thành công của dự án Tùy theo quan điể m và cách nhìn nhâ ̣n khác nhau về sự thành công của dự án mà mỗi liñ h vực, mỗi ngành, mỗi loa ̣i dự án, có đinh ̣ nghiã riêng. Theo Globerson và Zwikael (2002) và Thomestt (2002) dự án đươ ̣c xem là thành công phải thỏa mãn 3 tiêu chí là chi phi,́ thời gian và yêu cầ u kỹ thuâ ̣t. Tuy nhiên 3 tiêu chí này không đủ để đo lường mô ̣t dự án thành công khi mà dự án còn đòi hỏi về chấ t lươ ̣ng trong quá trình quản lý dự án và thỏa mañ yêu cầ u của các bên liên quan Baccarini (1999), Schawalbe (2004), Pinto và Slevin (1987) cũng cho rằ ng dự án thành công phải có thêm tiêu chí thỏa mañ yêu cầ u của khách hàng và đem la ̣i lơ ̣i ić h cho mô ̣t nhóm khách hàng riêng biê ̣t.
Theo Chan (2001) dự án thành công phải đa ̣t các tiêu chuẩ n sau: thời gian, chi phí, đáp ứng yêu cầ u kỹ thuâ ̣t, thỏa mañ yêu cầ u của các bên tham gia, đáp ứng kỳ vo ̣ng người dùng, không ảnh hưởng đế n môi trường xung quanh, đem la ̣i giá tri ̣ kinh doanh và an toàn khi thi công. 6 Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16/03/2016 của Chính phủ.4 Những nhân tố quyết định đế n sự thành công của các dự án Trong rấ t nhiề u nghiên cứu trước đây, các tác giả đã đưa ra các kế t quả nghiên cứu về các yế u tố ảnh hưởng đế n sự thành ba ̣i của dự án trong nhiề u liñ h vực khác nhau. Để nghiên cứu sự thành công của các dự án nói chung, các nhà nghiên cứu thường đưa ra tập hợp các nhân tố tác động đến sự thành công này. Các nhân tố cốt lõi quyết định đến sự thành công của dự án (Critical Success Factors – CSFs) được đề cập đầu tiên bởi Rockart (1982) (Moredge và Owen, 1998, tr.
Sau đó, có rất nhiều nghiên cứu đã sử dụng khái niệm này trong nghiên cứu dự án. Phương pháp nghiên cứu CSFs này đã được triển khai từ những năm 1970 qua nghiên cứu quản lý dịch vụ tài chính, thông tin và sản xuất (Hardcastle và đ. Gần đây có nhiều tác giả nghiên cứu CSFs cho các dự án thuộc lĩnh vực xây dựng, cơ sở hạ tầng, nhà ở, quản lý dự án, dự án PPP, và các dự án khác,v. Các nhân tố CSFs này là cơ sở để Chủ đầu tư hay tổ chức cân nhắc, hướng tới để đạt được thành công cho các dự án.
Sau đó, rất nhiều nghiên cứu sử dụng thuật ngữ này trong nghiên cứu dự án, đặc biệt là các nghiên cứu của Hardcastle (2005). Trong kế t quả nghiên cứu của Hughe (1986) tác giả đã kế t luâ ̣n rằ ng sự thấ t ba ̣i của dự án tâ ̣p trung chủ yế u vào sự sai lầ m của hê ̣ thố ng quản lý, do viê ̣c thực hiê ̣n sai lầ m các hoa ̣ch đinh, ̣ cũng như thông tin bi ̣ giới ha ̣n và sai lê ̣ch khi truyề n đa ̣t mu ̣c tiêu. Tuy nhiên tác giả cũng cho rằ ng viê ̣c nhâ ̣n những sai lầ m này đảm bảo cho sự thành công của những dự án trong tương lai, mà chỉ có thể nâng cao cách quản lý hiê ̣u quả hơn.