Nghiên cứu quản trị thanh khoản tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Tài liệu chuyên sâu Quản trị thanh khoản tại ngân hàng nông nghiệp Việt Nam, phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc cho nông nghiệp

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

187
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án

2.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới

2.1.2. Các nghiên cứu trong nước

2.2. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu

2.2.1. Bài viết đăng trên các Tạp chí chuyên ngành

2.2.2. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành

2.2.3. Luận án Tiến sĩ kinh tế

2.3. Khoảng trống trong các nghiên cứu liên quan đến luận án

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu về quản trị thanh khoản tại ngân hàng nông nghiệp Việt Nam là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Ngân hàng thương mại (NHTM) hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, với nguồn vốn chủ yếu từ huy động của các tổ chức kinh tế và cá nhân. Sự biến động cao của nguồn vốn này phụ thuộc vào nhu cầu rút tiền của người gửi. Tài sản lớn nhất của NHTM là cho vay và đầu tư, những tài sản có tính lỏng thấp, chỉ thu hồi được khi đến hạn. Do đó, thanh khoản luôn là vấn đề sống còn trong hoạt động kinh doanh của mỗi NHTM. Các cuộc khủng hoảng ngân hàng trên thế giới đã cho thấy sự sụp đổ của ngân hàng có nguồn gốc từ việc rút tiền ồ ạt của khách hàng khi ngân hàng giảm hoặc mất uy tín. Tại Việt Nam, sau cuộc khủng hoảng ngân hàng Mỹ năm 2008, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chú trọng đến vấn đề thanh khoản và quản trị thanh khoản của các NHTM. Agribank, một trong bốn NHTM lớn nhất Việt Nam, có vai trò quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên, giai đoạn 2013 - 2018, Agribank đã bộc lộ nhiều yếu kém trong hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng đến thanh khoản và quản lý rủi ro thanh khoản (RRTK). Do đó, nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa lý thuyết mà còn thực tiễn trong việc hoàn thiện quản trị thanh khoản tại Agribank.

II. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung vào quản trị thanh khoản của NHTM. Các nghiên cứu này thường xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản, RRTK và quản lý thanh khoản. Ví dụ, nghiên cứu của Aspachs & cộng sự (2005) đã chỉ ra rằng thanh khoản ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài mà còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nội tại ngân hàng. Nghiên cứu của Rudolf Duttweiler (2010) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý thanh khoản có định hướng chiến lược từ ban quản lý cấp cao. Tại Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố về thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản. Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng RRTK không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên trong ngân hàng mà còn chịu sự tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng trống trong nghiên cứu về quản trị thanh khoản tại Agribank, đặc biệt trong giai đoạn 2017 - 2018. Điều này mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của NHTM cho thấy có nhiều yếu tố nội tại và vĩ mô tác động đến khả năng thanh khoản. Các yếu tố nội tại bao gồm quy mô tài sản, tỷ lệ nợ xấu, và khả năng sinh lời của ngân hàng. Các yếu tố vĩ mô như lãi suất, tỷ lệ lạm phát, và tình hình kinh tế cũng có ảnh hưởng lớn đến thanh khoản. Nghiên cứu của Vodova (2011) đã chỉ ra rằng có mối quan hệ đồng biến giữa khả năng thanh khoản ngân hàng với tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ lệ nợ xấu. Điều này cho thấy rằng các ngân hàng cần phải có chính sách quản lý tài chính chặt chẽ để duy trì thanh khoản ổn định. Hơn nữa, việc áp dụng các phương pháp hiện đại trong quản trị tài chính sẽ giúp các NHTM nâng cao khả năng thanh khoản và giảm thiểu RRTK.

IV. Giải pháp nâng cao quản trị thanh khoản

Để nâng cao quản trị thanh khoản tại Agribank, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, ngân hàng cần xây dựng một hệ thống quản lý thanh khoản hiệu quả, bao gồm việc nhận diện, đo lường, giám sát và kiểm soát thanh khoản. Thứ hai, cần tăng cường đào tạo nhân viên về quản lý tài chínhquản lý rủi ro thanh khoản. Thứ ba, ngân hàng cần áp dụng các công nghệ hiện đại trong việc quản lý thanh khoản, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động. Cuối cùng, việc thiết lập các chính sách hợp lý về lãi suất và huy động vốn cũng rất quan trọng để đảm bảo thanh khoản ổn định. Những giải pháp này không chỉ giúp Agribank cải thiện tình hình thanh khoản mà còn góp phần nâng cao uy tín và sự tin tưởng của khách hàng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị thanh khoản tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị thanh khoản tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.

Những vấn đề cơ bản về thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại 1. Vài nét về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại NHTM ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Khái niệm NHTM ở các cách tiếp cận khác nhau, thời điểm khác nhau đã có nhiều thay đổi.

Cụ thể: Theo PGS.TS Nguyễn Thị Mùi [32]: “NHTM là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng - Một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền kinh tế”. TS Nguyễn Đăng Dờn [31]: “NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các loại hình doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân, bằng việc huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi hoạt kỳ, tiền gửi định kỳ, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đồng thời sử dụng số vốn huy động được để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên”. Theo Luật các TCTD năm 2010 [39]: “NHTM là loại hình TCTD được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các TCTD và các quy định khác của pháp luật". Trong đó, hoạt động ngân hàng bao gồm: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.

Cụ thể: - Hoạt động nhận tiền gửi: hoạt động này gắn liền với việc tạo lập nguồn vốn quan trọng nhất của NHTM, do đó nó đƣợc ngân hàng thực hiện thƣờng xuyên bằng việc cung cấp rất nhiều sản phẩm tiền gửi đa dạng, phong phú. - Hoạt động tín dụng: tín dụng là hoạt động kinh doanh đặc trƣng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản ở phần lớn các NHTM nhƣng lại là tài sản có tính thanh khoản rất thấp và mức độ rủi ro cao. Do đó, khi cấp tín dụng, ngân hàng phải đảm bảo đạt lợi nhuận cao nhất với mức độ rủi ro có thể chấp nhận đƣợc. Ngày nay, 14 các ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng bằng tiền hoặc bằng tài sản với nhiều hình thức đa dạng, phong phú; bao gồm: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính.

Trong đó, dịch vụ cho vay đƣợc xem là dịch vụ sinh lời chủ yếu của các NHTM. - Dịch vụ thanh toán: ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ thông qua nhiều hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thuận lợi và đƣợc chuẩn hóa. Ngoài ra, các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua NHTW hoặc trung tâm thanh toán. Dịch vụ thanh toán ngày càng mang lại nguồn thu nhập lớn cho các NHTM và đã biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế.

Có thể thấy, mặc dù các khái niệm về NHTM không hoàn toàn đồng nhất, song các khái niệm đều đề cập đến những nội dung cơ bản: (i) là một tổ chức trung gian tài chính; (ii) hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận; (iii) cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng, trong đó 3 dịch vụ đặc thù là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Nhƣ vậy, có thể hiểu: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ với hoạt động cơ bản và thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân, trong đó có dịch vụ thanh toán. So với các trung gian tài chính khác, NHTM luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng: (i) Cung ứng các dịch vụ ngân hàng đa dạng; (ii) là cầu nối quan trọng giữa cung và cầu về vốn, đặc biệt tại các nền kinh tế đang phát triển, NHTM vẫn là kênh chủ yếu thu hút và cung cấp vốn cho nền kinh tế; (iii) là một chủ thể quan trọng truyền dẫn chính sách tiền tệ của NHTW: Để thực thi chính sách tiền tệ, NHTW phải sử dụng các công cụ nhƣ lãi suất tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc, thị trƣờng mở… tác động đến cung tiền, cuối cùng là tác động đến lạm phát. Bên cạnh đó, tiền gửi tại NHTM là bộ phận cơ bản cấu thành cung tiền trong nền kinh tế.

Do đó, cung tiền có thể đƣợc điều chỉnh thông qua điều chỉnh tiền gửi của hệ thống ngân hàng. Vì vậy, chính sách tiền tệ của NHTW có thể đƣợc chuyển tải đến nền kinh tế thông qua hệ thống các ngân hàng. Đặc điểm kinh doanh của ngân hàng thương mại So với các doanh nghiệp hoạt động các lĩnh vực khác, kinh doanh ngân hàng có những đặc điểm cơ bản: Thứ nhất, đối tƣợng kinh doanh của NHTM là tiền tệ. Tiền tệ là một đối tƣợng kinh doanh đặc biệt.

Giá trị của tiền tệ rất dễ biến động khi có sự thay đổi của môi trƣờng kinh doanh. Khi có sự thay đổi cơ chế chính sách của nhà nƣớc, sự biến động các yếu tố vĩ mô nhƣ lạm phát, lãi suất, tỷ giá hoặc có sự biến động nền kinh tế, chính trị, xã hội đều tác động nhất định đến giá trị đồng tiền. Vì vậy, với đối tƣợng kinh doanh là tiền tệ, ngân hàng luôn đối mặt với rủi ro khi có bất kỳ sự biến động nào của môi trƣờng kinh doanh. Thứ hai, sản phẩm kinh doanh của NHTM mang tính tƣơng đồng, dễ bắt chƣớc và gắn với yếu tố thời gian.

Các sản phẩm, dịch vụ mà NHTM cung cấp cho khách hàng rất đa dạng. Nhƣng phần lớn các sản phẩm của các ngân hàng lại khá tƣơng đồng, dễ bắt chƣớc. Khi một NHTM có một sản phẩm mới mang tính khác biệt trên thị trƣờng thì sản phẩm đó nhanh chóng trở nên đại trà vì các ngân hàng khác có thể triển khai sản phẩm tƣơng tự. Mặt khác, tiền tệ luôn gắn với yếu tố thời gian nên thời gian chính là yếu tố quan trọng thực hiện giá trị của sản phẩm và quyết định giá cả của sản phẩm.

Thứ ba, vốn kinh doanh của ngân hàng chủ yếu huy động từ bên ngoài, tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp ở các lĩnh vực kinh doanh khác. Do hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên của NHTM là huy động vốn để cho vay, đầu tƣ nên vốn kinh doanh chủ yếu của NHTM dựa vào vốn bên ngoài, tỷ trọng vốn tự có rất thấp (thƣờng dƣới 10%). Đặc điểm về cơ cấu vốn đã tạo ra đòn bẩy tài chính của NHTM cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp khác. Vì vậy hoạt động ngân hàng luôn đối mặt với rủi ro tài chính cao hơn các lĩnh vực khác.

Thứ tư, hoạt động kinh doanh của ngân hàng tác động đến mọi mặt của nền kinh tế quốc dân. Với đặc điểm là một trung gian tài chính cung ứng 3 nhóm dịch vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán, hoạt động của NHTM 16 tác động đến mọi mặt của nền kinh tế quốc dân và bộ phận lớn dân cƣ. Hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân cho dù là cá nhân hay tổ chức kinh tế ít nhiều đều sử dụng dịch vụ ngân hàng. Vì vậy một sự thay đổi nhỏ trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng có thể tác động nhất định đến lợi ích của các cá nhân, các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.

Trong trƣờng hợp những thay đổi đó tác động mạnh đến toàn bộ nền kinh tế có thể gây suy thoái kinh tế hoặc khủng hoảng kinh tế. Thứ năm, các nghiệp vụ kinh doanh của các NHTM có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Các NHTM nói riêng và TCTD nói chung có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua các hoạt động liên quan nhƣ gửi tiền, cho vay… Vì vậy khi một ngân hàng có khó khăn trong hoạt động kinh doanh tùy mức độ có thể tác động xấu đến các NHTM khác. Các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới đã chỉ ra rằng một ngân hàng phá sản có thể kéo theo sự phá sản của cả hệ thống NHTM và khủng hoảng hệ thống tài chính.

Thứ sáu, hoạt động kinh doanh của NHTM dựa trên chữ “tín”. Thực tiễn hoạt động ngân hàng cho thấy, chỉ khi ngân hàng chiếm đƣợc lòng tin của khách hàng thì mới giữ chân và thu hút khách hàng đến với mình. Chính vì vậy, trong mọi trƣờng hợp, việc giữ chữ “tín” luôn là vấn đề sống còn đối với ngân hàng. Nếu một ngân hàng bị mất chữ “tín”, khách hàng chuyển tiền gửi sang ngân hàng có uy tín tốt hơn, hậu quả là ngân hàng sẽ khó khăn trong huy động vốn, cho vay và sụt giảm thu nhập.

Tồi tệ hơn nếu khách hàng rút tiền ồ ạt, ngân hàng có thể phá sản. Những đặc điểm riêng có trong hoạt động kinh doanh của NHTM cho thấy rủi ro trong kinh doanh ngân hàng rất đa dạng, phức tạp, nguy cơ phát sinh luôn tiềm ẩn trọng mọi hoạt động của ngân hàng. Rủi ro xảy ra có thể để lại hậu quả nặng nề cho bản thân ngân hàng và nền kinh tế quốc dân. Chính vì điều này, hoạt động ngân hàng luôn chịu sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan giám sát ngân hàng và luôn phải đảm bảo những giới hạn an toàn để hạn chế rủi ro cho mỗi ngân hàng và rủi ro hệ thống.

Thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm thanh khoản của ngân hàng thương mại Dƣới góc độ tài sản, thanh khoản là một khái niệm để chỉ khả năng chuyển thành tiền của một tài sản. Một tài sản có tính thanh khoản cao có nghĩa là tài sản đó dễ dàng chuyển thành tiền mặt thông qua bán trên thị trƣờng với thời gian nhanh nhất và chi phí thấp nhất. Trong hoạt động của NHTM, thuật ngữ “thanh khoản” đã đƣợc đề cập khá nhiều song các khái niệm không hoàn toàn giống nhau do quan điểm tiếp cận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu quản trị thanh khoản tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam" tập trung vào việc phân tích và đánh giá các phương pháp quản trị thanh khoản trong bối cảnh hoạt động của ngân hàng nông nghiệp tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thanh khoản, từ đó giúp ngân hàng hoạt động ổn định và phát triển bền vững. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức quản lý tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, cũng như những thách thức mà các ngân hàng nông nghiệp đang phải đối mặt.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến quản trị ngân hàng, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Vietcombank, nơi phân tích quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp, và Nghiên cứu chất lượng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thái Nguyên, cung cấp cái nhìn về chất lượng tín dụng trong cùng lĩnh vực ngân hàng nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quản trị tài chính trong ngành ngân hàng.