PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Cải cách giáo dục, đổi mới trong giáo dục là vấn đề luôn được quan tâm rất lớn. Trước những thách thức về sự đổi mới trong ngành giáo dục, đặc biệt là hình thức tuyển sinh mới cũng giúp cho các thí sinh dễ dàng trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng hơn. Cùng với sự chuyển đổi về mặt quản lý tại cáctrường cao đẳng, trung cấp trong cả nước từ Bộ Giáo dục và Đào tạo về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì bước đầu không tránh khỏi những khó khăn nhất định.
Trường Cao đẳng Kinh tế Đối Ngoại cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức đó. Một tổ chức để tồn tại và phát triển luôn phải xác định mục tiêu và thiết lập các biện pháp để đạt được mục tiêu đó. Việc thiết lập một hệ thống KSNB hữu hiệu cho đơn vị cũng là một cách thức nhằm giúp tổ chức có thể đạt được mục tiêu mong Luận văn thạc sĩ KT muốn. Bởi vì, một HTKSNB hữu hiệu đưa ra sự đảm bảo hợp lý nhưng không tuyệt đối về việc bảo toàn tài sản, duy trì mức độ tin cậy của các thông tin tài chính và tuân thủ luật lệ, quy định.
Sự đảm bảo hợp lý là khái niệm khẳng định rằng, cần phải xây dựng, triển khai thực hiện HTKSNB để đem lại cho người điều hành đơn vị sự cân bằng giữa rủi ro trong hoạt động nhất định với mức độ kiểm soát cần thiết, sao cho đáp ứng được các mục tiêu đơn vị đề ra. Trường Cao Đẳng Kinh Tế Đối Ngoại là một đơn vị đào tạo nguồn nhân lực cho các học sinh, sinh viên bậc Cao đẳng, Trung cấp trong cả nước. Đơn vị cũng chịu ảnh hưởng của những sự thay đổi từ những đổi mới trong giáo dục, sự cạnh tranh của các trường Đại học, Cao đẳng trên cả nước. Bên cạnh đó, HTKSNB lại đang thể hiện nhiều lỗ hổng trong công tác quản lý.
Thể hiện sự quản lý chưa thật sự hiểu quả trong việc sự dụng tài sản và các nguồn lực một cách tối đa. Trước những thách thức, khó khăn nêu trên và sự yếu kém của hệ thống KSNB trong việc quản lý tại đơn vị. Cho nên tác giả muốn tìm ra những nguyên 2 nhân dẫn tới những khó khăn của hệ thống kiểm soát nội bộ và từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại trường Cao Đẳng Kinh Tế Đối Ngoại. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Cao Đẳng Kinh Tế Đối Ngoại” để thực hiện với mong muốn góp phần nào đó để giúp các hoạt động của nhà trường thực hiện hiểu quả hơn, hoàn thành tốt các mục tiêu đã đề ra.
Tổng quan nghiên cứu. Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trên những khía cạnh và lĩnh vực khác nhau của rất nhiều nhà khoa học trong nước cũng như nước ngoài. Trong quá trình thực hiện đề tài này tác giả cũng tìm hiểu qua một số công trình nghiên cứu: Tác giả Mawanda, S.P (2008) với nghiên cứu “Effects of internal control systems on Financial performance in an institution of higher learing in Uganda” đã Luận văn thạc sĩ KT nghiên cứu tác động của hệ thống KSNB đến hiệu quả hoạt động tài chính tại Uganda. Trong nghiên cứu này ông xem xét mối quan hệ giữa hệthống KSNB và hiệu quả hoạt động tài chính thông qua nghiên cứu hồ sơ của các bộ phận kiểm toán nội bộ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có mối quan hệ thuận chiều giữa tính hữu hiệu của hệ thống KSNB với hiệu quả hoạt động, KSNB được xem xét dựa trên các nhân tố như môi trường kiểm soát, kiểm toán nội bộ và các hoạt động kiểm soát, và hiệu quả hoạt động được đo lường bằng chỉ số tài chính như tỷsố thanh khoản, và các biện pháp phòng ngừa rủi ro hoạt động tài chính. (2011) với nghiên cứu “Internal Control and Impact of Financial Performance of the Organizations” đã tiến hành nghiên cứu tại Jaffna, nhằm xem xét mối quan hệ giữa hệ thống KSNB và hiệu quả hoạt động của các công ty. Trong đó, cácnhân tố của KSNB được đo lường bằng môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát và hiệu quả tài chính được đo bằng lợi nhuận và tính thanh khoản. Tác giả sử dụng bảng câu hỏi, quan sát và phỏng vấn 3 với mẫu nghiên cứu là 181 người làm việc trong các công ty, sử dụng kiểm định bằng hồi quy_ để đo lường ảnh hưởng KSNB đến hiệu quả hoạt động.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng KSNB có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của công ty. Nghiên cứu của Hooks cùng các cộng sự (1994) với nghiên cứu “Enhancing communication to assist infraud prevention and detection” đã mô tả môi trường kiểm soát như là một phần của văn hoá tổ chức. Nghiên cứu này tập trung kiểm tra tác động của từng yếu tố của các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ đến hiệu quả hoạt động của đơn vị. Hiệu quả được xem là biến phụ thuộc, biến độc lập là các nhân tố của hệ thống KSNB.
Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường kiểm soát là nhân tố quan trọng nhất, tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB. Nghiên cứu này cũng chứng minh rằng, yếu kém trong các thành phần của môi trường kiểm soát đều dẫn đến thất bại về tài chính của các công ty trong hai thập kỷ qua, trong đó nhân tố về đạo đức và phong cách điều hành đóng vai trò quan trọng nhất. Từ đó, Luận văn thạc sĩ KT ông đưa ra kết luận rằng cần có sự thay đổi trong phong cách điều hành vì chính nó sẽ là động lực và tác động đến hành vi của nhân viên. Vì vậy, nghiên cứu chỉ giới hạn là thấy được nhân tố môi trường tác động mạnh nhất tới tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, đây cũng chính là điểm còn hạn chế ở nghiên cứu.
Nghiên cứu của Lannoye (1999), Evaluation of internal Controls - nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Đánh giá rủi ro là một quá trình nhằm phát hiện các điều kiện và các sự kiện bất lợi có thể xảy ra, đánh giá khả năng thiệt hại (về tài chính và phi tài chính). Điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro là doanh nghiệp phải có các mục tiêu rõ ràng, phù hợp. KSNB cung cấp cho doanh nghiệp cách thức đánh giá những rủi ro từ bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp như: + Xác định rủi ro; + Phân tích rủi ro; + Ước tính những nguy cơ; 4 + Đánh giá tần suất xảy ra; + Xem xét cách thức để quản lý rủi ro.
Nghiên cứu của Lannoye cho rằng các nhân tố như: quy tắc ứng xử, các chính sách đạo đức, cơ cấu tổ chức là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính hữu hiệu và hiệu quả của KSNB. Đơn vị cần có cấu trúc thích hợp, không bị chi phối bởi một hay một vài cá nhân và phải được giám sát một cách hiệu quả bởi ban giám đốc, ban kiểm toán và hội đồng quản trị. Nhà quản lý cần phải thường xuyên truyền đạt cho nhân viên về tầm quan trọng của KSNB để nâng cao trình độ hiểu biết của nhân viên về cách thức kiểm soát. Nếu môi trường kiểm soát tốt, sẽ ảnh hưởng đến các nhân tố còn lại và nâng cao tính hữu hiệu của KSNB.
Tại Việt Nam nghiên cứu ứng dụng hệ thống KSNB trong một đơn vị cụ thể ở các ngành, các lĩnh vực cũng được nhiều tác giả quan tâm ở các luận án, luận văn cao học. Kết quả nghiên cứu của luận văn đều hệ thống hóa được các nguyên lý Luận văn thạc sĩ KT chung về hệ thống KSNB, chưa có tác giả nào bổ sung cho lý luận mới về hệ thống KSNB, chưa có tác giả nào đưa ra được tiêu chí để đo lường và đánh giá HTKSNB hoạt động đạt hiệu quả như mong muốn và phân tích được mối quan hệ giữa nhân tố tác động đến việc thiết kế và vận hành của hệ thống KSNB. Điểm riêng của các nghiên cứu này là quá trình phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống KSNB của từng đơn vị cụ thể để đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu: Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh, “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tập Đoàn hóa Chất Việt Nam”.
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, di vật lịch sử để phân tích những nguyên lý cơ bản về HTKSNB và kết hợp phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn tại công ty mẹ, các công ty thành viên của tập đoànnhằm mục đích làm rõ thực trạng của HTKSNB tại tập đoàn.Luận án nêu được đặc điểm chung về sản xuất kinh doanh, công tác quản lý cũng như những thuận lợi và khó khăn thuộc về môi trường kinh doanh có ảnh hưởng đến 5 việc thiết kế và vận hành HTKSNB tại tập đoàn hóa chất Việt Nam. Luận án cũng chỉ đưa ra được những giải pháp phù hợp cho đơn vị chưa mở rộng áp dụng cho tất cả các ngành nghề nói chung. Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Minh Hải, “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp may mặc Việt Nam” sử dụng phương pháp định tính trong nghiên cứu. Luận án đã có những đóng góp về mặt học thuật và lý luận như: Từ lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ và đặc thù của các doanh nghiệp trong lĩnh vực may mặc, luận án đã khẳng định những yêu cầu đối với hệ thống kiểm soát nội bộ ứng dụng trong các doanh nghiệp may mặc (may gia công xuất khẩu) trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như: Mục tiêu kiểm soát hàng đầu trong điều kiện kinh doanh theo chuỗi giá trị dệt may toàn cầu là đảm bảo hiệu quả kinh doanh trên cơ sở đạt được tiết kiệm trong mua sắm các yếu tố đầu vào, kiểm soát chi phí sản xuất theo định mức, hạn chế thấp nhất thiệt hại trong quá trình sản xuất, nâng cao sức sản xuất trong sử dụng lao động, giảm thiểu rủi ro trong thanh Luận văn thạc sĩ KT toán với khách hàng; Ngoài việc đảm bảo các mục tiêu truyền thống, hệ thống kiểm soát nội bộ cần hướng đến việc thực hiện giá trị đạo đức của doanh nghiệp liên quan đến trách nhiệm xã hội, đặc biệt là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động.