Tổng quan luận án
Công trình khoa học được mô tả là luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước tại Việt Nam", chuyên ngành Kế toán, mã số 62.01, do nghiên cứu sinh Phạm Quang Huy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Việt tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành vào năm 2014. Kết cấu văn bản bao gồm 187 trang nội dung chính, 7 hình vẽ, 13 bảng biểu minh họa và 5 phụ lục.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của một quốc gia và là công cụ điều chỉnh vĩ mô đối với nền kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, công tác thu và chi ngân sách bên cạnh các kết quả đạt được vẫn tồn tại tình trạng thất thu ở một số khâu, sắc thuế, cùng với hiện tượng lãng phí, thất thoát trong chi tiêu công. Một nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hạn chế trong quản lý ngân sách và chế độ kế toán thu, chi hiện hành: nghiệp vụ thu, chi ngân sách do nhiều cơ quan cùng thực hiện đồng thời nhưng mỗi cơ quan lại áp dụng mục đích, phương pháp, đối tượng, nội dung hạch toán và chỉ tiêu báo cáo khác nhau. Hệ quả là số liệu có sự phân tán, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phân tích phục vụ điều hành tài chính vĩ mô. Đồng thời, thông tin kế toán công hiện hành chỉ mới cấu thành báo cáo quyết toán ngân sách năm phục vụ Quốc hội, chưa hình thành báo cáo tài chính hợp nhất của Chính phủ để công khai cho toàn dân giám sát. Bên cạnh đó, bối cảnh hội nhập quốc tế (WTO, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, các cam kết với WB, IMF, ADB) đặt ra yêu cầu thông tin kế toán nhà nước phải có tính so sánh, minh bạch và tiếp cận Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS).
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 4 nội dung:
- Xác định lỗ hổng trong các nghiên cứu trên thế giới và trong nước bằng việc hệ thống hóa các nghiên cứu về kế toán công và kế toán thu, chi ngân sách.
- Tổng quát hóa cơ sở lý luận liên quan đến khu vực công, tài chính công, kế toán thu, chi ngân sách và quản lý ngân sách trên thế giới cũng như tại Việt Nam, làm nền tảng đối chiếu với thực tế.
- Phân tích thực trạng hệ thống kế toán thu, chi ngân sách và các lĩnh vực liên quan (cơ cấu thu chi, hệ thống tài chính công, nội dung hạch toán), qua khảo sát thực tế để chứng minh tính cần thiết phải hoàn thiện hệ thống này.
- Đề xuất các giải pháp chung, giải pháp cụ thể và kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán thu, chi ngân sách phù hợp điều kiện Việt Nam, tiếp cận chuẩn mực kế toán công quốc tế.
Giả thuyết nghiên cứu ($H_0$): "Việt Nam có thể và cần hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi ngân sách hiện hành".
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 5 câu hỏi:
- $Q_1$: Các tác phẩm khoa học trong và ngoài nước đã có những công trình nào nghiên cứu về kế toán thu, chi ngân sách tại Việt Nam chưa?
- $Q_2$: Việt Nam có thể hoàn thiện kế toán thu, chi ngân sách dựa vào những nội dung lý luận nào và bài học kinh nghiệm tại những quốc gia nào trên thế giới?
- $Q_3$: Hệ thống kế toán thu, chi ngân sách tại Việt Nam hiện nay có những điểm tương đồng và khác biệt nào so với chuẩn mực kế toán công quốc tế?
- $Q_4$: Thực trạng của hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước tại Việt Nam về quản lý thu chi ngân sách, hệ thống tài chính công và chế độ kế toán như thế nào?
- $Q_5$: Để hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước Việt Nam thì cần thực hiện những giải pháp và kiến nghị cụ thể nào?
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào hệ thống kế toán và các cơ quan quản lý thu, chi ngân sách tại Việt Nam, có khảo sát thực tế tại các đơn vị công ở các tỉnh thành và đối chiếu kinh nghiệm của 5 khu vực địa lý trên thế giới. Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát dữ liệu văn bản pháp lý và số liệu thống kê thu, chi ngân sách giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2013 (kèm chuỗi số liệu tỷ lệ thu, chi ngân sách trên GDP từ năm 1998 đến năm 2012).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành điểm luận các công trình nghiên cứu theo hai nhóm nguồn tư liệu trong nước và quốc tế:
Về các nghiên cứu ngoài nước, các bài báo khoa học được phân tích gồm: Pallot, J. nghiên cứu khuôn mẫu lý thuyết, nhân tố và khái niệm kế toán công; tác giả L (2005) phân tích IPSAS và cải cách kế toán chính phủ tại các quốc gia đang phát triển; Benito, B. và Caroline, R. (2010) khảo sát mức độ áp dụng kế toán dồn tích theo IPSAS tại các chính phủ Châu Âu; Goddard, A. (2010) so sánh quốc tế các nghiên cứu kế toán khu vực công; Lasse, O. (2010) nghiên cứu quy trình chuẩn hóa quốc tế về lập và trình bày báo cáo tài chính công; Lapsley, I. (1988) tổng quan nghiên cứu tài chính, trách nhiệm giải trình và kiểm toán công; Jacobs, K. và Brewis, J. (2012) đánh giá tác động cải cách kế toán công theo hướng quốc tế; Ekrem, K. (2012) phân tích tài chính trong kế toán công tại EU, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ; Okwoli, A. A. và Owolabi, S. A. (2013) chỉ ra sự bất cập của các cơ quan quản trị tài chính công tại Nigeria; Adhikari, P. (2010) so sánh cải cách kế toán công và quá trình chuyển sang kế toán dồn tích giữa Nepal và Nga. Về luận án tiến sĩ và đề tài nghiên cứu quốc tế, tác giả trích dẫn: Victoria, J. S. (2004) về kế toán hợp nhất khu vực công tại Úc; Ali, R. (2008) về kế toán dồn tích tại Bắc Úc; Zhou, N. (2010) về kế toán khu vực công tại Hồng Kông; Malmmose, M. (2012) về vai trò của kế toán quản trị trong cải cách quản trị công mới (NPM); Carlin, T. (2003) về kế toán dồn tích trong khu vực công; IMF (2006) về hài hòa hóa kế toán công quốc tế; tác giả L (2010) về mục tiêu kế toán công giai đoạn 1976-2009; Shi, Y. (2011) về cải cách dồn tích khu vực công tại Trung Quốc.
Về các nghiên cứu trong nước, nhóm bài báo khoa học gồm: Mai Thị Hoàng Minh (2008) về tính cần thiết ban hành chuẩn mực kế toán công; Đặng Thái Hùng (2008, 2009) về kế toán nhà nước và định hướng ban hành chuẩn mực kế toán công Việt Nam; Phạm Văn Đăng (2008, 2011) về khác biệt giữa kế toán nhà nước Việt Nam với chuẩn mực quốc tế và đối tượng thông tin của mô hình tổng kế toán nhà nước; Đặng Văn Du (2008) về công cụ giám sát ngân sách nhà nước; Lê Hùng Sơn (2009) về mô hình một cửa trong kiểm soát chi ngân sách; Đoàn Xuân Tiên (2009) về hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc tế; Đặng Văn Thanh (2011) về mô hình tổng kế toán nhà nước; Đoàn Ngọc Xuân (2012) về đổi mới chính sách ngân sách nhà nước. Nhóm luận án và đề tài trong nước gồm: Nguyễn Văn Hồng (2007) về hoàn thiện hệ thống kế toán nhà nước; Nguyễn Hữu Phúc (2009) về tổ chức kiểm toán ngân sách nhà nước; Trần Thị Ngọc Hân (2012) về kiểm toán hoạt động dự án cầu đường; Lưu Trường Kháng (2013) về kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình; Trịnh Ngọc Sơn (2003) về kiểm toán chi ngân sách đơn vị hành chính sự nghiệp khoán chi; kỷ yếu Hội thảo Bộ Tài chính (2007) về định hướng và lộ trình áp dụng IPSAS; Vũ Đức Chính (2010) về xây dựng mô hình tổng kế toán nhà nước tại Kho bạc Nhà nước; Lư Thị Thanh Nhàn (2011) về kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh.
| Nhóm nghiên cứu |
Đại diện tác giả tiêu biểu |
Trọng tâm nội dung đã thực hiện |
| Nghiên cứu quốc tế |
Pallot, J.; Benito & Caroline (2010); Goddard (2010); Lasse (2010); Ali, R. (2008); Carlin, T. (2003); Shi, Y. (2011) |
Khuôn mẫu lý thuyết IPSAS, so sánh cải cách kế toán công, chuyển đổi từ cơ sở tiền mặt sang cơ sở dồn tích tại các nước phát triển và đang phát triển. |
| Nghiên cứu trong nước |
Mai Thị Hoàng Minh (2008); Đặng Thái Hùng (2008, 2009); Phạm Văn Đăng (2008, 2011); Nguyễn Văn Hồng (2007); Vũ Đức Chính (2010) |
Nêu nhu cầu ban hành chuẩn mực công, phân tích kế toán hành chính sự nghiệp, kiểm toán ngân sách, bước đầu phác thảo mô hình tổng kế toán nhà nước. |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: Các nghiên cứu nước ngoài chủ yếu tập trung vào bối cảnh các quốc gia phát triển hoặc phân tích rời rạc từng khía cạnh kỹ thuật, chưa vận dụng vào hệ thống kế toán nhà nước cụ thể của Việt Nam. Trong khi đó, các công trình trong nước phần lớn tập trung vào kế toán hành chính sự nghiệp, quy trình kiểm toán ngân sách hoặc chỉ dừng lại ở việc giới thiệu tổng quan về chuẩn mực quốc tế mà chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp, hệ thống và toàn diện việc áp dụng IPSAS vào toàn bộ hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước Việt Nam gắn với quản trị tài chính công.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng lập luận trên các nền tảng sau:
- Khái niệm khu vực công: Tiếp cận theo định nghĩa của Derbyshire (1987), Hiệp hội kế toán viên Michigan (1990) và Từ điển Longman of Contemporary English (2012). Khu vực công là tập hợp các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp công và ngân hàng trung ương, có 5 vai trò kinh tế - xã hội: thúc đẩy phát triển kinh tế (tập trung vốn cho công nghiệp nặng, hạ tầng cơ bản), hỗ trợ phát triển vùng khó khăn nhằm giảm mất cân bằng khu vực, giải quyết việc làm, cung ứng hàng hóa dịch vụ công không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm và gánh vác rủi ro vĩ mô.
- Khuôn mẫu Quản trị tài chính công (PFM): Căn cứ khuôn mẫu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF 2009, 2013), Quyết định số 432/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Báo cáo của Viện Kế toán Công chứng Tài chính Công (CIPFA 2012). Chu trình PFM gồm 4 giai đoạn tuần hoàn: (1) Lập kế hoạch và dự toán ngân sách, (2) Thực hiện ngân sách, (3) Ghi chép kế toán và lập báo cáo, (4) Kiểm toán. Cấu trúc hệ thống PFM bao gồm 4 thành phần: Quản lý tài chính tổng thể, Quản lý về mặt hoạt động, Quản lý rủi ro hệ thống, và Quản trị các bên liên quan. Kế toán thu, chi ngân sách đóng vai trò là hệ thống thông tin đầu vào phản ánh các nghiệp vụ tài chính phát sinh, bảo đảm tính kỷ luật, hiệu quả và trách nhiệm giải trình.
- Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS): Do Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Công Quốc tế (IPSASB) thuộc Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) ban hành. Luận án phân tích hai cơ sở kế toán chính: kế toán trên cơ sở tiền mặt (cash basis) và kế toán trên cơ sở dồn tích (accrual basis). Các chuẩn mực cụ thể được sử dụng gồm: Phần mở đầu IPSAS, Báo cáo tài chính, Chuẩn mực số 01 (Trình bày báo cáo tài chính), Chuẩn mực số 22 (Công bố thông tin tài chính khu vực chính phủ), Chuẩn mực số 24 (Trình bày thông tin ngân sách trên báo cáo tài chính).
- Mô hình Quản trị công mới (NPM): Nhấn mạnh vào việc nâng cao hiệu lực, tính kinh tế và trách nhiệm giải trình thông qua việc quản lý tài chính dựa trên kết quả đầu ra thay vì kiểm soát yếu tố đầu vào.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính: Sử dụng phương pháp khái quát hóa, khái niệm hóa, phân tích, tổng hợp, phương pháp tư duy, phương pháp so sánh đối chiếu và phương pháp lý luận khách quan để hệ thống hóa cơ sở lý luận, rà soát văn bản quy phạm pháp luật và phân tích kinh nghiệm quốc tế tại 5 khu vực địa lý trên thế giới (Cộng đồng Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Á...).
- Phương pháp định lượng: Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi trưng cầu ý kiến và phương pháp thống kê để thu thập, tổng hợp, xử lý dữ liệu khảo sát thực tế và kiểm tra độ tin cậy của mẫu dữ liệu.
Nguồn dữ liệu của luận án gồm hai phần:
- Dữ liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Ngân sách nhà nước, các thông tư, quyết định chế độ kế toán); số liệu thống kê dự toán ngân sách nhà nước giai đoạn 2002 - 2013; số liệu quyết toán ngân sách nhà nước giai đoạn 2002 - 2010; cơ cấu thu và chi ngân sách giai đoạn 2002 - 2010; tỷ lệ thu, chi ngân sách trên GDP giai đoạn 1998 - 2012; chỉ số công khai ngân sách (Open Budget Index - OBI) năm 2008 và 2010 của các quốc gia.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát ý kiến cán bộ, công chức, kế toán viên tại các đơn vị, tổ chức công trên các tỉnh thành của Việt Nam về thực trạng chế độ kế toán ngân sách hiện hành và mức độ sẵn sàng tiếp cận IPSAS.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu về kế toán thu, chi ngân sách nhà nước
Chương 1 (dung lượng 16 trang) khái quát lịch sử nghiên cứu về kế toán công và kế toán thu, chi ngân sách trên bình diện quốc tế và trong nước. Tác giả tổng hợp các ấn phẩm từ bài báo học thuật, kỷ yếu hội thảo đến các luận án tiến sĩ và đề tài nghiên cứu cấp bộ. Nội dung chương chỉ rõ các nghiên cứu quốc tế đã định hình khuôn mẫu lý thuyết cho IPSAS và xu hướng chuyển đổi sang kế toán dồn tích nhưng chưa liên hệ với thực tiễn Việt Nam. Các nghiên cứu trong nước chủ yếu phân tích kế toán hành chính sự nghiệp riêng lẻ, các công cụ kiểm toán hoặc phác thảo định hướng chung mà chưa xây dựng hệ thống giải pháp tổng thể cho kế toán thu, chi ngân sách. Từ khoảng trống này, chương xác định tính cấp thiết, thiết lập giả thuyết nghiên cứu $H_0$ cùng 5 câu hỏi nghiên cứu ($Q_1$ đến $Q_5$) làm định hướng cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về kế toán thu, chi ngân sách nhà nước và chuẩn mực kế toán công quốc tế
Chương 2 (dung lượng 51 trang) tập trung luận giải cơ sở lý luận về khu vực công, quản trị tài chính công (PFM) và chuẩn mực kế toán công quốc tế. Tác giả phân tích chu trình 4 bước của PFM và cấu trúc 4 thành phần theo mô hình CIPFA (2012). Chương trình bày chi tiết bản chất, vai trò của kế toán thu, chi ngân sách trong việc phản ánh quá trình phân bổ, tiếp nhận và sử dụng nguồn lực công; làm rõ các khía cạnh kỹ thuật gồm ghi nhận, đánh giá, trình bày và công bố thông tin kế toán, gắn liền với kiểm soát nội bộ và kiểm toán nhà nước. Đồng thời, chương phân tích nội dung các chuẩn mực IPSAS cốt lõi (IPSAS 01, IPSAS 22, IPSAS 24), so sánh cơ sở kế toán tiền mặt và cơ sở kế toán dồn tích. Tác giả nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng IPSAS tại các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu (Bảng 2.1) và các khu vực địa lý khác, từ đó rút ra các bài học cho Việt Nam về: xác lập lộ trình chuyển đổi, gắn kết kế toán với PFM, lựa chọn mô hình kế toán phù hợp thể chế, đào tạo nhân lực, kiểm soát rủi ro thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và khung nghiên cứu chung của luận án
Chương 3 (dung lượng 13 trang) trình bày thiết kế nghiên cứu của đề tài. Tác giả mô tả đối tượng và phạm vi nghiên cứu, làm rõ phương pháp tiếp cận chung và 9 phương pháp nghiên cứu cụ thể được ứng dụng tương ứng cho từng phần nội dung. Chương cụ thể hóa quy trình nghiên cứu thông qua sơ đồ khung nghiên cứu (Hình 3.1), phân loại nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp, trình bày quy trình thiết kế bảng câu hỏi điều tra trưng cầu ý kiến, cách thức tổ chức khảo sát tại các đơn vị công, và các tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng, độ tin cậy của thông tin thu thập.
Chương 4: Thực trạng về hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước tại Việt Nam
Chương 4 (dung lượng 52 trang) phân tích thực trạng hệ thống tài chính công và kế toán thu, chi ngân sách tại Việt Nam. Về quản lý tài chính công, chương đánh giá thực trạng phân cấp ngân sách, tổng hợp số liệu dự toán giai đoạn 2002 - 2013 (Bảng 4.1), số liệu quyết toán 2002 - 2010 (Bảng 4.2), cơ cấu thu ngân sách (Bảng 4.3), tỷ lệ thu trên GDP 1998 - 2012 (Bảng 4.4), cơ cấu chi ngân sách (Bảng 4.5) và tỷ lệ chi trên GDP 1998 - 2012 (Bảng 4.6).
Về thực trạng kế toán thu, chi ngân sách, tác giả rà soát hệ thống văn bản pháp lý, các quy định trong Luật Ngân sách nhà nước, các vấn đề ghi nhận, đánh giá, chứng từ, sổ sách và thời hạn, nơi nộp báo cáo tài chính của các cấp (Bảng 4.7, Bảng 4.8). Tác giả so sánh đối chiếu giữa kế toán hiện hành của Việt Nam với IPSAS để xác định các điểm tương đồng và khác biệt, đặc biệt là việc Việt Nam chủ yếu vẫn dựa trên cơ sở tiền mặt điều chỉnh và chưa lập BCTC nhà nước hợp nhất. Chương trình bày kết quả khảo sát thực tế tại các tỉnh thành (Bảng 4.9) thông qua việc phân tích độ tin cậy của mẫu và kết quả thống kê. Cuối chương, tác giả nhận diện các hạn chế cốt lõi: số liệu thu, chi phân tán ở nhiều cơ quan (Thuế, Hải quan, Kho bạc, Tài chính); cơ sở kế toán tiền mặt không phản ánh đầy đủ tài sản công và nợ công; thiếu các chuẩn mực kế toán công làm thước đo pháp lý thống nhất.
Chương 5: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước tại Việt Nam
Chương 5 (dung lượng 51 trang) xây dựng hệ thống các giải pháp hoàn thiện. Tác giả xác lập quan điểm hoàn thiện (phù hợp quản lý ngân sách Việt Nam, từng bước tương thích với IPSAS, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin) và mục tiêu cụ thể. Tác giả phân tích mức độ công khai tài liệu ngân sách và chỉ số OBI của 11 quốc gia năm 2008 và 2010 (Bảng 5.1, Bảng 5.2).
Các giải pháp được phân bổ thành:
- Nhóm giải pháp chung: Hoàn thiện môi trường pháp lý, môi trường hoạt động và đáp ứng yêu cầu quản lý ngân sách.
- Nhóm giải pháp cụ thể: (1) Xây dựng mô hình Tổng kế toán nhà nước; (2) Điều chỉnh cơ sở kế toán từ tiền mặt sang cơ sở dồn tích trong ghi nhận và trình bày; (3) Xác lập lộ trình chuyển đổi áp dụng sang IPSAS song song với xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc gia (Bảng 5.3 và Hình 5.1); (4) Tổ chức hệ thống thông tin kế toán thích ứng trên nền tảng nâng cấp Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS).
- Nhóm giải pháp hỗ trợ: Kiểm soát chất lượng thông tin kế toán (đánh giá chất lượng, hoàn thiện thanh tra, kiểm tra, giám sát), kiểm soát rủi ro thông tin (kiểm soát trong, kiểm soát ngoài) và phát triển hạ tầng kỹ thuật. Cuối cùng, chương đưa ra các kiến nghị đối với Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan thực hiện kế toán thu, chi ngân sách.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa khuôn mẫu lý luận về khu vực công, quản trị tài chính công (PFM) và kế toán thu, chi ngân sách trong mối quan hệ hữu cơ với Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS). Công trình tổng hợp và phân tích kinh nghiệm áp dụng IPSAS tại 5 khu vực địa lý trên thế giới, rút ra các bài học mang tính quy luật về lộ trình chuyển đổi cơ sở kế toán, mô hình kế toán nhà nước và điều kiện kỹ thuật đi kèm.
Về mặt thực tiễn, luận án đạt được các đóng góp sau:
- Tập hợp và phân tích chuỗi dữ liệu thực tế nhiều năm liên tục về tình hình dự toán ngân sách (2002 - 2013), quyết toán ngân sách (2002 - 2010), tỷ lệ thu và chi ngân sách trên GDP (1998 - 2012), phản ánh bức tranh tài chính công và cơ cấu thu chi của Việt Nam.
- Đánh giá toàn diện thực trạng kế toán thu, chi ngân sách, chỉ rõ sự phân tán thông tin giữa các cơ quan quản lý và khoảng cách giữa chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam với các chuẩn mực IPSAS (đặc biệt là IPSAS 01, IPSAS 22, IPSAS 24).
- Cung cấp minh chứng thực nghiệm từ cuộc khảo sát bằng bảng hỏi tại các tổ chức công ở các tỉnh thành, sử dụng công cụ thống kê để đánh giá thực trạng và kiểm định tính khả thi của các định hướng hoàn thiện.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm: xây dựng mô hình Tổng kế toán nhà nước trực thuộc Kho bạc Nhà nước; xác lập lộ trình từng bước chuyển đổi từ cơ sở tiền mặt sang cơ sở dồn tích; xây dựng bộ chuẩn mực kế toán công Việt Nam trên nền tảng tiếp cận IPSAS; nâng cấp hệ thống thông tin kế toán TABMIS; và thiết lập cơ chế kiểm soát chất lượng, quản trị rủi ro thông tin kế toán nhà nước.
- Đưa ra các kiến nghị phân cấp cụ thể đối với Quốc hội (hoàn thiện khung luật), Chính phủ và Bộ Tài chính (ban hành đề án Tổng kế toán nhà nước và chuẩn mực công), Kiểm toán Nhà nước (tăng cường kiểm toán báo cáo quyết toán và báo cáo tài chính nhà nước), cùng các cơ quan hành chính sự nghiệp, kho bạc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tự xác định phạm vi nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ tổng thể và khung vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế vào hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước tại Việt Nam; do đó chưa đi sâu phân tích toàn diện từng chuẩn mực IPSAS cụ thể ở cấp độ chi tiết, đồng thời chưa đi vào thiết kế các sơ đồ định khoản và hướng dẫn quy trình hạch toán chi tiết từng nghiệp vụ kế toán tác nghiệp hàng ngày của kế toán viên tại đơn vị cơ sở.
Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản gợi mở các nội dung:
- Đi sâu phân tích nội dung từng chuẩn mực kế toán công quốc tế cụ thể và xây dựng tài liệu hướng dẫn hạch toán chi tiết nghiệp vụ phục vụ quá trình tác nghiệp thực tế của đội ngũ kế toán viên khu vực công tại Việt Nam.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu vận dụng bộ chuẩn mực kế toán công quốc tế vào các lĩnh vực công đặc thù khác trong xã hội, bao gồm: kế toán đơn vị chính quyền cấp phường xã, kế toán cơ quan bảo hiểm xã hội, và kế toán tại các cơ quan quản lý thuế.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Các cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học cho Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính và Kho bạc Nhà nước trong việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán, xây dựng Đề án Tổng kế toán nhà nước và ban hành hệ thống Chuẩn mực kế toán công Việt Nam.
- Cơ quan Kiểm toán Nhà nước: Hỗ trợ khung đối chiếu chuẩn mực quốc tế phục vụ công tác kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách và giám sát tính minh bạch tài chính công.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Kế toán, Tài chính công: Tài liệu tham khảo về khuôn mẫu lý thuyết PFM, hệ thống IPSAS, chuỗi số liệu tài chính công giai đoạn 1998 - 2013 và phương pháp khảo sát thực tế trong nghiên cứu kế toán công.
- Các phần nội dung đáng tham khảo nhất gồm: Khung phân tích lý thuyết PFM và các thành phần quản trị tài chính (Chương 2); bảng so sánh đối chiếu thực trạng kế toán Việt Nam với IPSAS và chuỗi số liệu thu chi ngân sách (Chương 4); mô hình Tổng kế toán nhà nước cùng lộ trình chuyển đổi sang cơ sở dồn tích (Chương 5).
Câu hỏi thường gặp
1. Giả thuyết nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu cốt lõi của luận án được xác định như thế nào?
Luận án xác định một giả thuyết nghiên cứu ($H_0$): "Việt Nam có thể và cần hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi ngân sách hiện hành". Để kiểm định giả thuyết này, tác giả đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu ($Q_1$ đến $Q_5$) bao quát từ việc điểm luận tài liệu khoa học, hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế, so sánh thực trạng kế toán Việt Nam với chuẩn mực IPSAS, cho đến đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị hoàn thiện.
2. Chu trình quản trị tài chính công (PFM) và mô hình 4 thành phần được luận án sử dụng gồm những yếu tố nào?
Theo khuôn mẫu lý thuyết IMF (2012) và CIPFA (2012) được luận án trình bày, chu trình PFM gồm 4 bước tuần hoàn: (1) Lập kế hoạch và dự toán ngân sách, (2) Thực hiện ngân sách, (3) Ghi chép kế toán và lập báo cáo, (4) Kiểm toán. Hệ thống PFM cấu thành từ 4 thành phần chính: Thành phần 1 - Quản lý tài chính tổng thể; Thành phần 2 - Quản lý về mặt hoạt động; Thành phần 3 - Quản lý rủi ro hệ thống; Thành phần 4 - Quản trị các bên liên quan.
3. Luận án chỉ ra những tồn tại căn bản nào trong hệ thống kế toán thu, chi ngân sách hiện hành tại Việt Nam?
Văn bản chỉ rõ các tồn tại cốt lõi: việc ghi nhận thu, chi ngân sách do nhiều cơ quan (Thuế, Hải quan, Kho bạc, Tài chính) thực hiện đồng thời với mục đích, phương pháp và chỉ tiêu báo cáo khác nhau dẫn đến số liệu thiếu đồng bộ; kế toán chủ yếu thực hiện trên cơ sở tiền mặt điều chỉnh nên chưa ghi nhận đầy đủ tài sản công và nợ công; hệ thống báo cáo mới chỉ dừng lại ở báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm phục vụ Quốc hội mà chưa lập được báo cáo tài chính nhà nước hợp nhất của Chính phủ; mức độ công khai và minh bạch ngân sách theo chỉ số OBI còn thấp.
4. Luận án đề xuất giải pháp kỹ thuật cụ thể nào về cơ sở kế toán và mô hình tổ chức bộ máy kế toán nhà nước?
Về mô hình tổ chức, luận án đề xuất xây dựng mô hình Tổng kế toán nhà nước giao cho Kho bạc Nhà nước thực hiện chức năng tổng hợp thông tin tài chính nhà nước. Về mặt kỹ thuật ghi nhận, luận án đề xuất chuyển đổi từng bước từ cơ sở tiền mặt sang cơ sở dồn tích theo lộ trình tiếp cận IPSAS song song với việc xây dựng hệ thống Chuẩn mực kế toán công Việt Nam, kết hợp nâng cấp hệ thống thông tin TABMIS và hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng, rủi ro thông tin kế toán.
5. Dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát thực tế trong luận án được thu thập trong khung thời gian nào?
Dữ liệu thứ cấp bao gồm chuỗi số liệu tỷ lệ thu, chi ngân sách trên GDP giai đoạn 1998 - 2012; số liệu dự toán ngân sách giai đoạn 2002 - 2013; số liệu quyết toán ngân sách và cơ cấu thu chi giai đoạn 2002 - 2010; cùng chỉ số công khai ngân sách OBI các năm 2008 và 2010. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng câu hỏi lấy ý kiến thực tế từ các cán bộ, công chức làm công tác kế toán và quản lý tài chính công tại các tỉnh thành ở Việt Nam.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Quang Huy là công trình nghiên cứu hệ thống về việc hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước tại Việt Nam theo định hướng tiếp cận Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS). Bằng phương pháp tiếp cận hỗn hợp kết hợp giữa nghiên cứu định tính và khảo sát định lượng, tác giả đã làm rõ thực trạng phân tán thông tin kế toán ngân sách, sự thiếu hụt của cơ sở dồn tích và những điểm khác biệt giữa kế toán công Việt Nam với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất một hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm việc thiết lập mô hình Tổng kế toán nhà nước, chuyển đổi cơ sở kế toán sang dồn tích, ban hành chuẩn mực kế toán công quốc gia và nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cải cách quản trị tài chính công và nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của nền tài chính quốc gia.