chương I, điều 3, mục 10 thì “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản tri và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” [7] Các khái niệm trên tuy có khác nhau nhưng đều có những điểm chung cơ bản như sau: 11 - Ké toán quản trị là một phân hệ kế toán cung cấp những thông tin định lượng. - _ Đối tương sử dụng thông tin kế toán quản trị là các cấp độ nhà quản tri doanh nghiệp. - Thông tin kế toán quản trị nhằm đáp ứng nhu cầu cho các chức năng của các nhà quản trị doanh nghiệp. Qua đó, có thể hiểu khái quát về kế toán quản trị một cách tổng quát như sau: Kế toán quản trị là một bộ phận của kế toán doanh nghiệp, cung cấp thông tin định lượng thông qua các báo cáo nội bộ nhằm giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có cơ sở dé đưa ra những quyết định liên quan đến việc hoạch định va kiêm soát các hoạt động trong doanh nghiệp của minh.
Vai tro Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp. Hệ thống thông tin kế toán quản trị là một trong những nguồn thông tin ban đầu của quá trình ra quyết định, giúp các nhà quản trị trong doanh nghiệp có những quyết định tốt hơn và qua đó nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp một cách tốt nhất. Tùy vào chức năng và nhiệm vụ của các nhà quản trị trong doanh nghiệp mà kế toán quản trị sẽ được thiết kế và cung cấp những thông tin phù hợp: Đối với những nhà quản trị cấp cơ sở, kê toán quản trị cung cấp những thông tin số lượng chi tiết phản ánh quá trình thực hiện nhiệm vụ dé từ đó giúp họ có thé tự đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của chính minh dé có thé đưa ra được những cải tiễn nhăm đạt được kết quả tốt hơn. Đối với các nhà quản trị cấp trung gian, kê toán quan trị sẽ cung cấp cả thông tin số lượng lẫn thông tin về chi phí về các nguồn lực đã sử dụng và kết quả đã đạt được nhằm giúp họ có thé ra những quyết định có tính chiến thuật về sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, giám sát việc sử dụng và việc phân bô các nguôn lực đó sao cho có hiệu quả nhât.
12 Đối với các nhà quản trị cấp cao trong doanh nghiệp, ké toán quản tri sẽ cung cấp những thông tin phản ánh khả năng sinh lời chung của cả doanh nghiệp chắng hạn như những thông tin về thị phần, về các nguy cơ bị cạnh tranh, su hai lòng của khách hàng, dịch vụ hậu mãi.cũng như khả năng sinh lời của từng bộ phận trong doanh nghiệp nhằm giúp các nhà quản trị này có những quyết định mang tính chiến lược nhằm định hướng phát triển lâu dài cho doanh nghiệp. Phan biệt giữa kê toán quản trị và kê toán tài chính Mặc dù đêu có chức năng cung câp thông tin nhưng mục tiêu của kê toán quản trị khác với mục tiêu của kê toán tài chính nên giữa kê toán quản trị và kế toán tài chính lại có sự khác nhau rõ rệt. Về đối twong sử dung thông tin Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán tài chính là bản thân doanh nghiệp và các đối tượng ngoài doanh nghiệp, như: Ngân hàng, nhà cho vay, nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng, các cổ đông. Còn đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị chỉ cung cấp cho bản thân doanh nghiệp, như: Quản trị doanh nghiệp, các phòng ban chức năng, các phân xưởng, tổ đội sản xuất,.
Đặc biệt thông tin kế toán quan trị không cung cấp ra ngoài doanh nghiệp. Như vậy, những thông tin của kế toán quản trị chỉ được sử dụng cung cấp trong nội bộ doanh nghiệp, không được cung cấp ra bên ngoài doanh nghiệp. Về đặc điểm của thông tin Đặc điểm thông tin của kế toán tài chính là phản ánh quá khứ. Nghĩa là các nghiệp vụ kinh tế mà kế toán tài chính phản ánh đã phát sinh, đặt trọng tâm là thông tin quá khứ, phản ánh không linh hoạt và theo một nguyên tắc chặt chẽ.
Nhưng, đặc điểm thông tin của kế toán quản tri lại đặt trong tâm hướng đến tương lai nhiều hơn. Điều đó là vì, ngoài việc cung cấp những thông tin thực hiện, quá khứ, kế toán quản trị cần phải cung cấp những thông tin dự toán 13 ngân sách sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải hết sức linh hoạt theo yêu cầu sử dụng thông tin của các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp. Về kỳ lập báo cáo Đối với kế toán tài chính, kỳ lập báo cáo theo định kỳ: Hàng năm, giữa niên độ. Còn đối với kế toán quan tri, việc lập báo cao là thường xuyên, có thể là hàng ngày, hàng tuần, mười ngày, hàng tháng, hàng quý,.
Bởi vì, kế toán quản trị thường phải cung cấp thông tin theo yêu cầu của từng cấp quản lý khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp. Cho nên, bat kể thời gian nao, nếu quản trị doanh nghiệp cần nam về van dé nào đó trong hoạt động kinh doanh thì kế toán quản trị phải cung cấp những thông tin một cách kịp thời và đầy đủ. Về ching loại báo cáo Đối với kế toán tài chính, chủng loại báo cáo được cố định ở bốn loại báo cáo. Đó là: - Bang cân đối kế toán.
- Báo cáo kết quả kinh doanh. - Báo cáo lưu chuyên tiền tệ. - Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Còn đối với kế toán quản trị không cô định ở loại báo cáo nao.
Ching loại báo cáo của kế toán quản tri rất linh hoạt, có thé nói là nhiều và rất cụ thé. Bởi vì, thông tin của kế toán quản tri chi phục vụ trong nội bộ doanh nghiệp. Ngoài phục vụ thông tin cho quản trị doanh nghiệp, thông tin kế toán quản trị phải cung cấp cho các cấp quản lý khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp. Về tính nguyên tắc Hệ thống kế toán tài chính phải tuân thủ theo một nguyên tắc đã được quy định thống nhất từ Trung ương đến địa phương trong mọi thành phần kinh tế.
Ở bất kỳ một quốc gia nào cũng vậy, hệ thông kế toán tài chính được quy định rất nghiêm ngặt về hình thức, trình tự xử lý, quy trình công việc kế toán 14 tài chính cho đến việc lập hệ thống báo cáo tài chính đều được quy định chặt chẽ dé đảm bảo tính thống nhất, tính pháp lý của thông tin. Đối với kế toán quản tri hoàn toàn không chiu bất kỳ một sự ràng buộc nào. Hệ thống thông tin của kế toán quản trị là hết sức linh hoạt, đáp ứng mọi yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Điều quan tâm nhất của các nhà quản trị đối với thông tin kế toán quản tri là có hữu ích hay không.
Nhiệm vụ của kê toán quản tri Dé đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin cho các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp, kế toán quản trị có những nhiệm vụ cơ bản sau đây: - Thu thập, xử lý thông tin theo phạm vi, nội dung của kế toán quản trị đã được xác định trong từng thời kỳ, phản ánh được từng thành phần chi phí bằng cách chia doanh nghiệp thành nhiều trung tâm trách nhiệm chi phi. Tính toán và hợp chi phí sản xuất, tính giá thành cho từng loại sản phẩm, từng loại công trình dich vụ. - Xây dựng được các dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh cho các mục tiêu hoạt động. - Kiểm soát việc thực hiện và giải trình các nguyên nhân làm chênh lệch giữa chỉ phi theo dự toán và theo thực tế.
- _ Tổ chức phân tích và cung cấp các thông tin cần thiết bằng hệ thống báo cáo kế toán quản trị, giúp quản trị doanh nghiệp ra các quyết định kinh doanh hợp lý và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các phương pháp nghiệp vụ kỹ thuật của kế toán quản frị Ngoài việc áp dụng các phương pháp chung của kế toán, kế toán quản trị còn sử dụng một số phương pháp nghiệp vụ kỹ thuật riêng để cung cấp những thông tin cho quá trình quản lý doanh nghiệp sau đây: 15 Sw dụng kỹ thuật phan tích để Cung cấp những thông tin có dạng đặc thủ Quá trình tập hợp và xử lý thông tin, kế toán quản trị có sử dụng nhiều phương pháp phân tích, như: Phương pháp so sánh, phương pháp xác định các nhân tố ảnh hưởng, phương pháp phân tổ. kết hợp với kiến thức quan tri học nhằm cung cấp những thông tin hữu ích có dạng đặc thù nhằm đáp ứng moi nhu cầu về thông tin cho quân trị doanh nghiệp. Sw dụng các cách phân loại chỉ phí khác nhau Kế toán quan trị lựa chọn các cách phân loại chi phi phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu các loại thông tin cho các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp, như: Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phi, phân loại chi phi theo chức nang của chi phí.
Thiết kế thông tin trên các báo cáo kế toán quản trị Nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin hữu ích cho quản trị doanh nghiệp, những thông tin của kế toán quản trị được thiết kế trên các báo cáo phải được thể hiện dưới dạng so sánh được, đơn giản và dễ hiểu. Trinh bày các thông tin dưới dạng phân tích mô hình và đô thị Việc truyền đạt các thông tin cho các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp cũng cần phải được đơn giản, dễ hiểu và ngắn gọn. Kế toán quản trị sẽ trình bày các thông tin dưới dạng phân tích mô hình và đồ thị cho phép tính toán và dự đoán một số quá trình chưa xảy ra. Căn cứ trên những dự kiện đã có và các mối quan hệ đã xác định được để từ đó cung cấp những thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch của quản trị doanh nghiệp.
Ngoài ra, các thông tin đã được định lượng và thiết kế trên các báo cáo kế toán quản tri, còn trình bày và truyền đạt thông tin đưới dang mô hình và đồ thị. Bởi vì, đây là cách trình bày dé hiểu, dé thấy và phản ánh rõ ràng nhất các môi quan hệ cũng như xu hướng biến động của các thông tin mà các cấp quan trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp hết sức quan tam. [8] 16 Yêu cau của tô chức công tác kê toan quan tri Kế toán quản trị là công việc của từng doanh nghiệp, Nhà nước không bắt buộc doanh nghiệp phải công khai các thông tin về kế toán quản trị.